Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Tham Luận Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Tham Luận Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

NHẬP MÔN - Giáo Hữu - Thượng Công Thanh - Hội Thánh Truyền Giáo

NHP MÔN
Giáo Hữu - Thượng Công Thanh - Hội Thánh Truyền Giáo

Có người quan niệm rằng: “Hễ ở hiền làm lành lánh dữ, khi mất sẽ được siêu sinh tịnh độ, chớ cần gì phải nhập môn, cầu Đạo”. Đúng là theo Đạo thì phải ăn hiền, ở lành, đó chỉ là điều kiện phải có nhưng chưa là yếu tố quyết định, bởi những lý do sau đây.
Trước hết, chúng ta có thể hiểu, nhập là vào, môn là cửa, nhập môn là vào cửa Đạo (Đạo ở đây là Đạo Cao Đài).
Tìm đường học Đạo
Thầy đã nói: “Thầy đến thế gian là lập cho các con một trường thi công quả”. Công là hành động, quả là kết quả (hoạt động đem lại ích lợi cho mọi người). Thông thường muốn thi cử thì phải học hành, học những gì, thi những gì và học ở đâu, ai dạy là có kết quả tốt nhất? Việc này đòi hỏi học sinh phải chọn thầy và trường. Thầy giỏi, trường có kỷ cương, học sinh chăm ngoan thì học sinh đỗ nhiều và đạt vị trí cao.
Người nhập môn vào Đạo Cao Đài ví như một Cha, được đồng đạo giúp đỡ nhau, dìu dắt nhau trong đường đạo và đường đời để anh trước em sau mà đi đến nơi Bồng Đảo.
Như vậy tùy theo căn cơ của mỗi người trong đạo được tu từ thấp đến cao (Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa), có thứ lớp, có từng bậc tu, không thể chưa qua lớp 1 mà lên lớp 2 hay lớp 3 được.
Có sự che chở của Thiêng Liêng
Khi đã chính thức là người tín đồ rồi sẽ được Thầy che chở:
“Nhập môn rồi con Thầy, Thầy độ,
Tẩy uế oan nghiệp khổ tận trừ.
Khai đàn mở lối Ngọc Hư,
Trấn thần định tỉnh tâm tư tịch tà.
An vị rồi có Cha làm chủ,
Thoát tôi đòi khỏi lũ quỷ ma.
Giải oan rửa sạch oan gia,
Hồng ân đại xá Kỳ Ba của Thầy.
Từ vô thỉ đến nay, tạo ác,
Thầy lãnh thay giải thoát cho con.
Sinh sinh vay trả vẫn còn,
Đem con tắm thánh còn con Đạo dòng.”
(Đức Quan Thế Âm Bồ tát dạy tại Thánh Thất Thái Hòa, ngày 19.04.ĐĐ 30)
Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I trang 73 ngày 19/02/1926 Thầy dạy: “Cả kiếp luân hồi thay đổi từ vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chuyển kiếp ngàn ngàn, muôn muôn lần tới đến địa vị nhơn phẩm. Nhơn phẩm trên thế này lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng. Đức bậc Đế Vương nơi trái địa cầu này chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67 nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quý trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu. Tam Thiên Thế Giới, qua khỏi Tam Thiên Thế Giới mới tới đến Tứ Đại Bộ Châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên. Vào Tam Thập Lục Thiên rồi mới chuyển kiếp tu hành nữa, mới đặng đến Bạch Ngọc Kinh , là nơi Đạo Phật gọi là Niết Bàn đó vậy...
Vậy Thầy dặn các con, nếu kẻ không tu, làm đủ phận người, công bình, chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa thì biết chừng nào đặng hội hiệp cùng Thầy? nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại, càn khôn thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy.”
Tại sao biết ngộ một đời tu, trở về cùng Thầy? Trong Cơ Tận Độ tàn linh này, Thầy quyết đem con cái của Thầy trở về quê xưa vị cũ, gọi là thời Đại Ân Xá. Muốn được hưởng Ân Xá thì phải tu, muốn tu thì phải vào Đạo. Trong lễ nhập môn có phép giải oan, giải oan để tiêu trừ căn nghiệp từ bao lượng kiếp:
May đặng gặp hồng ân chan rưới,
                     Giải trái oan sạch tội tiền khiên.
                           Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
                  Khai đường Cực lạc, dẫn miền Tây phương.
                     Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,
                     Noi Chơn truyền khử quỷ trừ ma.
                           Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
                  Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh.
                     Cứ nương bóng CHÍ LINH soi bước,
                     Gội mê đồ tắm nước MA HA.
                           Liên đài nay nở thêm hoa,
                  LÃO ĐAM cũng biết, THÍCH GIÀ cũng quen.”
(Kinh Giải Oan)
Tại sao phải minh thệ
Muốn được giải oan, dứt nghiệp lực như đã nói ở trên thì người nhập môn phải minh thệ: “Con tên là _____ tuổi____ thề rằng: Từ đây con biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp cùng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai, thì Thiên tru Địa lục”
Lời minh thệ có ý nghĩa là phải cam kết giữ trong Tam Qui, Tam Qui là:
- Qui y Phật: Từ đây con biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, có nghĩa là ngưỡng vọng và tin tưởng tuyệt đối vào Quyền năng của Đấng Chí Tôn. Không thay đổi đức tin bất cứ lý do gì.
- Qui y Pháp: gìn luật lệ Cao Đài, là phải tuân giữ các pháp môn truyền dạy của Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng như những điều ghi trong Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển...
- Qui y Tăng: hiệp cùng chư môn đệ, là tôn trọng tất cả các huynh đệ cao đài từ chức sắc đến tín đồ có nhiệm vụ dìu dắt ta tiến bộ trong tu học, lập công bồi đức.
Lời minh thệ mang tính cam kết, khẳng định đức tin: như sau có lòng hai, thì Thiên tru Địa lục. Ở thế gian thì người đứng đầu một nước thường ân xá (giảm tội) trong những ngày lễ trọng, người được hưởng đặc ân này phải cam kết không tái phạm, nếu tái phạm tội sẽ nặng hơn. Còn đối với Vô hình muốn được xá tội thì người nhập môn phải tự mình cam kết giữ đúng qui giới như lời thệ mới được hưởng Hồng ân Đại xá (không cam kết không được ân xá).
Đọc Thánh ngôn Thầy dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển giờ Ngọ ngày mồng 1 tháng 7 năm Bính Dần (09/08/1926) ta thấy rõ điều này:
“...Quỉ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác, chúng nó hiệp Tam Thập Lục Động toan hại các con; nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh Thệ nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.”
Ở Hội Thánh Truyền Giáo
Ở Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài lễ Nhập môn được qui định như sau:
“Khi có người phát tâm cầu Đạo, phải có hai Đạo hữu dẫn tấn đến thưa Ban Trị Sự sở tại. Ban Trị Sự trình Đầu Họ Đạo Thánh Thất xin làm lễ Nhập môn. Trường hợp nơi ở của người xin nhập môn chưa có Đạo Thầy hoặc đã có mà người nhập môn không biết Xã Đạo lại trực tiếp đến Đầu Họ Đạo thông báo cho Ban Trị Sự gần nhất chọn cử hai người dẫn tấn và định ngày nhập môn.
Trước khi làm lễ Nhập môn Đầu Họ Đạo Thánh Thất chỉ định Ban Phổ Tế hướng dẫn người nhập môn học hiểu Giáo lý, Kinh luật và học thuộc lời thệ xin nhập môn trong thời gian ít nhất một tháng (Trừ trường hợp đặc biệt).
Lễ nhập môn được cử hành tại Thánh thất vào ngày Đàn lệ. Trường hợp già yếu và bịnh nặng không đến Thánh thất được thì được phép mời vị Đầu Họ Đạo đến làm lễ nhập môn tại nhà Ban Trị Sự có thời Thầy.
Lễ Nhập môn do Đầu Họ Đạo chủ lễ, người nhập môn quỳ sau, hai người dẫn tấn quỳ hai bên. Đầu Họ Đạo cáo Đức Chí Tôn xin Bí tích. Đoạn đầu họ đạo và hai người dẫn tấn đứng lên, người nhập môn quỳ yên để nghe Đầu Họ Đạo nói ý nghĩa tuyên thệ. Tiếp đó người nhập môn tự đọc lời Minh Thệ. Thệ xong đồng nhi đọc bài Kinh Giải Oan cho người nhập môn. Lễ xong người nhập môn đứng dậy.
Đầu họ đạo dặn người dẫn tấn phải thường xuyên nhắc nhở người Đạo hữu mới giữ trong Qui Giới, các ngày Đàn lệ về Xã Đạo hoặc Thánh Thất chầu lễ.
Cuối cùng, tất cả vào lễ tạ Đức Chí Tôn và bãi đàn...”
(trích Kinh Tận Độ năm 1995, trang 34 - 35 của HTTG Cao Đài)
Con nhà Đạo (Đạo dòng) chỉ làm lễ Sinh nhật, Tắm Thánh, Thành Nhân, không làm lễ Nhập môn. Và trong lễ Tắm Thánh có Pháp Giải oan:
“Xin gìn giữ Thánh hình thanh bạch,
Xin xá ân rửa sạch tiền khiên.
Căn xưa ví dữ cũng hiền,
Dầu ra cửa tội, đủ quyền cao siêu.”
(Kinh Tắm Thánh)
Như vậy người muốn tu học hành đạo, lập công bồi đức đúng Chơn Truyền Đạo Pháp để khi thoát xác trở về hội hiệp cùng Thầy, chứng phẩm vị Thiêng Liêng thì bước đầu phải nhập môn, cầu Đạo.

Trong Kỳ Ba Đại Ân Xá này, người giác ngộ nhập môn để được tiêu trừ nghiệp chướng, thoát cửa luân hồi sinh tử, được hộ trì che chờ của Thầy và các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần và đặc biệt là tu hành có phương pháp và có tổ chức.n

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

THÔNG ĐIỆP TỪ THẦN MẶT TRỜI

THÔNG ĐIỆP TỪ THẦN MẶT TRỜI
Hỡi những rặng rừng thiêng núi thẳm!
Hỡi những loài hạ thú thượng cầm!
Ta là Thần Mặt Trời hằng soi sáng sau những đêm dài tăm tối, mặt đất đã phơi bày. Ta rất đau lòng khi nhìn thấy thiên nhiên và muôn sinh bị loài người xâm hại.
Các khu rừng thân yêu ơi! Trái đất không thể duy trì sự sống nếu những khu rừng các ngươi không khỏe mạnh và phát triển. Các ngươi là mái nhà che chở cho hơn hai phần ba số loài trên thế giới. Các ngươi giống như lá phổi xanh của hành tinh, cung cấp oxy và giúp cân bằng lượng mưa và khí hậu. Tuy nhiên, các ngươi đang có nguy cơ bị hủy diệt do nền công nghiệp hiện đại phục vụ cho xã hội tiêu thụ của loài người. Các ngươi đang bị đốt cháy, bị suy thoái ở mức độ kinh sợ: 80% diện tích rừng trên thế giời đã bị phá hủy, thì khối lượng carbon được thải vào khí quyển nhiều hơn lượng phát thải khí nhà kính hàng năm từ nhiên liệu hóa thạch, gây ra mối thảm họa toàn cầu!
Các loài muôn thú thân yêu ơi! Ta vô cùng xót xa vì rất nhiều loài động vật hoang dã các ngươi đã suy giảm nghiêm trọng do hoạt động của loài người, khai thác tài nguyên không khôn ngoan để ô nhiễm nguồn nướcc ảnh hưởng tới sự sống còn của các loài thực vật và động vật.
Nhưng các ngươi hãy yên tâm, từ nay cho đến năm 2020, Ta tin tưởng rằng, tiếng nói Hòa Bình Xanh sẽ tác động đến loài người, đến các công ty khai thác gỗ, chấm dứt nạn phá rừng ở những khu rừng nguyên sinh để bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường hoang dã; tái chế và giảm năng lượng tiêu thụ hàng hóa; giảm thiểu sử dụng các chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu để bảo vệ những gì còn lại của hệ sinh thái đặc biệt là giảm biến đổi khí hậu.
Hỡi những hàng giáo dân trên toàn thế giới!
Ta là Thần Mặt Trời hằng soi sáng sau những đêm dài tăm tối, mặt đất đã phơi bày. Ta rất đau lòng khi nhìn thấy không ít người tuy có tín ngưỡng tôn giáo vẫn đang bị cuốn hút vào dòng thác lũ tham lam và thù hận.
Các ngươi hãy truyền cho nhau về ý nghĩa và vai trò của tôn giáo là gìn giữ hòa bình; tôn giáo không là nguồn gốc của sự xung đột, bởi Thượng Đế là Cha của sự thương yêu, giềng bảo sanh của càn khôn thế giới, chớ Thượng Đế không kêu gọi bạo lực. Các ngươi đừng hiểu lầm qua những tay mộng bá đồ vương lợi dụng tôn giáo làm nhãn hiệu phát động chiến tranh; nhan danh Thượng Đế để giết người hàng loạt, khủng bố và thậm chí tội ác diệt chủng.
Hãy trả lại sứ mạng đích thực của tôn giáo là bảo vệ hòa bình!
Hỡi những nhà lãnh đạo và đại diện tôn giáo Cao Đài!
Ta là Thần Mặt Trời hằng soi sáng sau những đêm dài tăm tối, mặt đất đã phơi bày, một phần thần quang của Ta trực chiếu và mảnh đất Việt Nam. Ta rất buồn khi nhìn thấy hiện tình tôn giáo Cao Đài, đã gần một trăm năm tuổi Đạo mà vẫn chưa trưởng thành, còn yên phận ngủ vùi trong từng lũy tre làng, trong từng ý hệ phái phe cục bộ.
Hãy thức dậy và mở rộng cửa ra, để nhìn thấy không gian bao la bên ngoài và để mọi người được nhìn thấy không gian ấm cúng bên trong! Các ngươi đang sống trong một thế giới mà ở đó sự cô lập là điều không thể chấp nhận. Các ngươi đang sống trong một thời gian chuyển biến chưa từng có của dân tộc và nên văn hóa giao thoa; cho nên các ngươi đều phải phụ thuộc lẫn nhau, chia sẻ nhau một trách nhiệm không thể thiếu chỉ vì hạnh phúc cho nhân loại, bởi các ngươi là nhân loại!
Hãy chung tâm thực hiện đầy đủ vai trò của mình như là một lực lượng gìn giữ hòa bình ngay trong hàng ngũ tôn giáo, phục vụ như là một liên kết truyền thông giữa hai bên đối lập, và cung cấp, đào tạo phương pháp hòa bình đối thoại liên tôn; đối thoại liên chi; đối thoại với tổ chức mình và đối thoại ngay cả chính mình. Đối thoại với chính mình là nhìn thẳng vào tâm thức, là hồi quang phản chiếu, để nhận ra đâu là thánh tâm, đâu là phàm ý, giữ lấy thánh tâm làm nòng cốt cho mọi hành xử tiếp theo.
Đối thoại với chính mình là cách tự phê tốt nhứt cho các ngươi để trở thành nhà tu, nhà hướng đạo trọn vẹn đức hạnh trong tôn giáo. Người hướng đạo hãy xứng đáng là trung tâm về đức hạnh; trong cái trung tâm về đức hạnh ấy, còn có cả đức tính khoan dung và khiêm tốn. Hướng đạo là người chăn dắt, việc hành xử của các nhà hướng đạo có tính cách kéo hơn là đẩy, giảng dạy hơn là ra lệnh, truyền cảm hứng hơn là trách móc. Hướng đạo là người để phục vụ nhơn sanh chớ không phải để xây dựng đế chế, có bệ chống lưng; ngồi một chỗ mà ra lệnh cho người khác phục vụ mình; ai góp ý sửa sai thì cho rằng kẻ đó chống báng mình và tìm cách triệt tiêu họ. Hành đạo dựa vào tài năng và đức độ, không dựa vào một cây to bóng cả nào để làm thế chống lưng, hoặc can tâm làm cây chống lưng cho hàng con buôn đội lốt tu hành.
Ta biết rằng tôn giáo không phải là phương thuốc duy nhất cho tất cả những căn bệnh thời đại, nhưng nó có một sứ mạng không thể thiếu trong thời khắc quan trọng này, nhất là sứ mạng Đại Đạo của các ngươi.
Thế kỷ mới vừa sang vài trang, cũng là vài trang mở đầu cho thời đại nhất thể hóa; làm thế nào duy trì niềm tin vốn có, đồng thời làm cho tốc độ Đại Đạo bắt nhịp với tiến bộ xã hội nhơn loài.
Trước thềm năm mới Ất Mùi, nhân danh ánh sáng Mặt Trời, Ta cầu xin Thượng Đế ban cho các ngươi ẩn điển của sự hòa hợp và hòa bình; chỉ có hòa hợp với hòa bình mới mang đến cho nhơn loại một cuộc sống hạnh phúc và thịnh vượng trong một thế giới tốt đẹp hơn. Ta chào tất cả và chúc lành muôn loài trên trái đất.
Ghi chép: Truyền Trạng THANH CĂN
Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên
Tòa thánh Châu Minh (Tiên Thủy, Bến Tre)


 Đăng trong ĐẠI ĐẠO VĂN UYỂN - XUÂN 2015

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Con nhà Đạo vào đời thời @

Con nhà Đạo vào đời thời @
NDL
Nói chuyện với sinh viên Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài trong Thánh lễ đầu năm học tại thánh thất Trung Minh (14.00 giờ, Chủ Nhật 30-10-2005)
Cơ duyên
Tôi được mời nói chuyện với sinh viên, các bạn trẻ của Hội Thánh Truyền Giáo đề tài này, có lẽ vì tôi đang làm cha hai đứa con, trong đó cậu cả thuộc thế hệ 8x (*), nghĩa là nay mai em nó cũng sẽ nối bước các bạn trẻ ở đây vào đời trong thời đại @.
Tôi vào đời nhằm lúc xã hội đói nghèo, khép kín trong vòng lạc hậu. Nửa sau thập niên 70 thế kỷ trước, cuộc sống có lẽ chỉ hơn mức khổ hạnh. Khác hơn các bạn bây giờ, tôi không phải là con nhà Đạo dòng, Đạo gốc mà xuất thân trong gia đình đạo Phật.
Không rõ các bạn trẻ ngồi đây đang ôm ấp hoài bão gì, riêng phần tôi, thuở đang tràn trề mộng ước thanh xuân, tôi đã phải ngậm ngùi ngâm hai câu thơ của Hoài Khanh:
Thôi em hạnh phúc giã từ,
Thời hai mươi tuổi đã mù khói sương.
Em này không phải là em gái, không phải là tình nhân. Em chỉ là một hình tượng nhân cách hóa mộng ước thanh xuân.
Thế mà chính trong tuổi hai mươi mịt mù sương khói đó, tôi hạnh ngộ Đại Thừa Chơn Giáo, đọc đại nguyện của Thầy, để rồi một mình ên, tôi lặng lẽ chọn cho mình đạo Cao Đài, dù chưa có một thủ tục nhập môn, chưa thỉnh thánh tượng Thiên Nhãn.
Mãi hai năm sau tôi mới được nhập môn ở Vĩnh Nguyên Tự, và vài năm sau nữa một lần tôi cảm khái Ơn Thầy dìu dắt:
Tạ ơn Thầy âm thầm đưa con đến
Chiếc thuyền từ giữa bể khổ đầy vơi
Thân nghiệp chướng nếu không Thầy soi lối
Con làm sao thành thật biết ơn đời
Tôi biết ơn đời năm tôi hai mươi tuổi đã tặng cho tôi một trận mù mịt khói sương, nhờ thế tôi hạnh ngộ Cao Đài.
Nhắc chuyện cũ để xác nhận rằng tôi thua các bạn ở chỗ tôi không có cơ hội vào đời thời @ mà cũng không phải xuất thân con nhà Đạo dòng như các bạn. Trong buổi nói chuyện này, tôi thử lấy suy nghĩ của một người có đứa con thế hệ 8x và từ những mong ước cho con mình, tôi chia sẻ với các bạn trẻ.
Các bạn là ai? đang ở đâu?
Các bạn không thể tự chọn một gia đình để xuất thân. Nhưng các bạn đã là con nhà Đạo. Đó là cái duyên lớn. Các bạn không thể tự chọn thời đại để làm người. Nhưng các bạn đã làm người của thiên niên kỷ thứ ba, mà thời đại này là một triển vọng hứa hẹn để các bạn học tập và làm được chút gì đó cho Đạo, cho đất nước.
Thực trạng
Hiện nay nền Đạo đang manh mún, trì trệ. Xã hội vừa lắm điều bất cập vừa chẳng ít sự thái quá. Các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) hầu như chỉ cổ xúy cho sự vong thân, tha hóa, cám dỗ thanh niên vào một nhận thức sai lầm kiểu “Hãy cho cả thế giới biết bạn là ai” nhưng thực chất là dắt tuổi trẻ vào những giá trị ảo. Con người chạy theo tiêu dùng, mua sắm không vì nhu cầu thiết thực mà chỉ vì muốn phô trương. Con người đang bóc lột trái đất và nô lệ vật chất. Các giá trị chân chánh truyền thống đều bị khinh thường. Chúng tôi là cha mẹ, kinh hãi khi thấy con mình vào đời trong cảnh trạng này.
Thời đại @
Nhưng ngược lại, chúng tôi mừng khi thấy các bạn đang sống ở thời đại mà Đức Lão Tử ngày xưa mơ ước: Thánh nhân bất xuất song dũ nhi tri thiên hạ. Không ra khỏi cửa mà biết hết việc thế gian, đó là kỳ diệu của thời @. Thật vậy, ngày nay, với internet, với Google, với Unicode… các bạn đã phần nào đạt được khả năng tri thiên hạ của thánh nhân dù đang ngồi trong góc nhà nhỏ hẹp. Vậy phải biết định hướng học tập thời @ để đừng bỏ lỡ công năng kỳ diệu của nó.
Học gì?
Về cơ bản, phải có kỹ năng đọc hiểu thành thạo một ngoại ngữ, tối thiểu là tiếng Anh. Nó là công cụ không thể thiếu để khai thác internet, tiếp cận với xu thế toàn cầu hóa (globalization). Đây là ngõ thoát cho các bạn tự học để tự bổ túc những thiếu sót và chậm trễ của hệ thống giáo dục nhà trường. Bằng con đường này các bạn tự mở mắt cho mình để tự nâng cao tri thức. Con nhà Đạo thời @ còn có nhiệm vụ lâu dài là phải biết hướng tư duy @ vào giáo lý Cao Đài để hiện đại hóa phong cách học hỏi, truyền bá Cao Đài ngõ hầu tránh khỏi nhược điểm theo nếp xưa cũ. Các bạn trẻ cũng cần hiểu xu thế toàn cầu hóa ở mặt tích cực để tư duy thêm về triển vọng của Tam Kỳ Phổ Độ.
Chọn nghề
Phải biết chọn nghề gì không trái đạo. Chẳng hạn, đã là con nhà Đạo thì đừng làm bác sĩ phá thai, đừng kinh doanh lò mổ gia súc, gia cầm, cũng đừng mở quán nhậu, v.v… Ra đời năm 1926, trong Tân Luật Cao Đài, nơi phần Thế Luật (điều thứ hai mươi) đã quy định: “Kể từ ngày ban hành luật này, người bổn đạo chẳng nên chuyên nghề gì làm cho sát sanh, hại vật; chẳng được làm nghề gì mà tồi phong bại tục; chẳng được soạn hay là ấn hành những truyện phong tình, huê nguyệt, không đặng buôn bán các thứ rượu mạnh và á phiện là vật độc làm cho giảm chất con người.”
Sẽ có nghề giúp các bạn dễ dàng kiếm ra rất nhiều tiền, nhưng bạn sẽ không còn là con nhà Đạo! Sẽ có nghề khiến bạn vẻ vang trên trường đời danh lợi, nhưng bạn không phụng sự được chút gì cho Đạo. Hãy biết chọn nghề gì để sống được đàng hoàng, có nhân cách và còn điều kiện thời gian, tim óc để hành đạo.
Tóm lại, chọn nghề gì để đừng hối tiếc khi nhớ câu kinh Thánh mà thánh Françoise Xaviê hay nhắc nhở: Dầu cho được cả thế gian này mà đánh mất linh hồn mình thì cũng chẳng ích gì!
Hôn nhân
Chẳng biết trong các bạn trẻ có ai sẽ chọn đường độc thân hành đạo như Đức Bảo Pháp Thanh Long của Hội Thánh Truyền Giáo? Ở đây ta nói chuyện theo lẽ thường, tức là các bạn trẻ rồi sẽ có người yêu và kết hôn. Vấn đề đặt ra là người phối ngẫu của bạn có cùng đạo Cao Đài như bạn không.
Tân Luật Cao Đài, nơi phần Thế Luật (điều thứ sáu) đã quy định rõ: “Việc hôn là việc rất trọng đời người. Phải chọn hôn trong người đồng đạo; trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết làm giai ngẫu.” Thực tế cho thấy, vẫn có không ít trường hợp cha mẹ là chức sắc hay chức việc nhưng con nhà Đạo gốc lại kết hôn không theo quy định Tân Luật. Hệ quả là có khi con cái phải cải đạo, trở thành tân tòng theo yêu cầu ràng buộc của gia đình người phối ngẫu. Có khi họ tạm thỏa thuận nguyên tắc “đạo ai nấy giữ” nhưng trong nhà vẫn khó lập Thiên Bàn, khi đau yếu, từ trần không được vợ (hay chồng) chấp thuận cho làm các bí tích của Cao Đài. Thậm chí muốn ăn chay cũng không được ủng hộ. Vợ hay chồng muốn đi thánh thất tu học, hành đạo phải lén lút. Sự mâu thuẫn càng căng hơn khi hai người có con, sẽ nảy sinh tranh chấp là con cái bị buộc theo đạo của cha hay đạo của mẹ. Trong hoàn cảnh ấy, gia đình luôn xào xáo vì nội chiến tín ngưỡng.
Đây là vấn đề nhạy cảm vô cùng. Tại thánh tịnh Ngọc Minh Đài, ngày 15-01 Kỷ Dậu (thứ Hai 03-3-1969), Đức Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh dạy như sau: “Phần nhiều gia đình Thiên phong chức sắc, chức việc, đến hàng đạo hữu, cha mẹ có đạo Cao Đài, con cái lại đi đạo khác, rồi trở về chống đối lại đường lối hành đạo của mẹ cha. Vẫn biết đạo nào cũng quý, cứu cánh cùng rốt cũng như nhau; điểm đề cập nơi đây là khía cạnh giáo dục của phận làm cha mẹ.”
Thế nên, trừ trường hợp những ai có đại chí hiến dâng trở thành giáo sĩ, khi còn trẻ các bạn cần chuẩn bị hôn nhân với người đồng đạo Cao Đài. Sinh hoạt thanh niên trong môi trường đồng đạo là điều kiện tốt nhất để quen biết và tìm hiểu nhau. Cha mẹ hai bên lại cùng chung họ đạo, tình đồng đạo khăng khít mà trở thành tình sui gia hòa hảo nữa thì rất hay. Cha Cao Đài, mẹ Cao Đài, nuôi dạy con cái trở thành tương lai kế truyền Cao Đài. Con đường thế đạo gẫm ra cũng cần thiết để nối tiếp những “Cao Đài tử”, phải thế không các bạn?
Khi mùa thu tới
Còn khoảng ba thập niên nữa các bạn trẻ đang ngồi đây sẽ bước vào cái tuổi “tri thiên”, cũng là tuổi “gió heo may đã về”, tuổi “vào thu”.
Ngày xưa, khi nhìn lại đời mình lúc tuổi sang thu, nhà thơ Vũ Hoàng Chương ngậm ngùi than:
Xuân đời chưa hưởng kịp,
Mây mùa thu đã sang…
Tôi tin rằng các bạn trẻ là con nhà Đạo, có nền nếp đạo đức của gia đình, các bạn còn được Hội Thánh Truyền Giáo chăm lo cho đời sống và hướng dẫn tinh thần. Với những điều ấy, chắc chắn các bạn vào đời không phải chỉ để hưởng thụ riêng. Cho nên các bạn sẽ không thèm tiếc rẻ là xuân đời chưa hưởng kịp.
Người ta nói thanh niên là tương lai của đất nước. Các bạn còn hơn thế, vì các bạn còn là tương lai của Hội Thánh Truyền Giáo, tương lai của Cao Đài. Nói cách khác, các bạn là con nhà Đạo, thì cha mẹ, ông bà các bạn, Hội Thánh Truyền Giáo của các bạn luôn kỳ vọng các bạn sẽ nối tiếp đạo nghiệp ông cha.
Các bạn thành tài, sẽ vào đời, và nên biết định hướng từ bây giờ để sẽ làm được chút gì đó cho Hội Thánh, cho Cao Đài trong khả năng và chí nguyện của các bạn.
Đến chừng tuổi các bạn sang thu, mong sao đừng có ai phải ngậm ngùi than rằng:
Đạo nghiệp còn tay trắng,
Mây mùa thu đã sang!
Đó cũng là lời chúc lành tôi gởi chào các bạn.
NDL
(*) Thế hệ 8x tức là các bạn trẻ sinh từ năm 1980 tới 1989. (BBT)


Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

TÍNH CHẤT DÂN TỘC VÀ SỰ KHẾ HỢP BẢN THỂ ĐẠI ĐỒNG NHÂN LOẠI

TÍNH CHẤT DÂN TỘC VÀ SỰ KHẾ HỢP
BẢN THỂ ĐẠI ĐỒNG NHÂN LOẠI

Trần Ngọc Như Quỳnh (1)
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo – Tập Đoàn Giáo Sĩ

Tóm lược. Dựa trên những nét đẹp đạo đức trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, kết hợp với thánh giáo dạy về nhân bản của Đức Đông Phương Chưởng Quản, bài viết cố gắng đưa ra những lập luận hướng đến mục đích khẳng định nhân bản là yếu tố căn bản, cốt lõi của tính chất dân tộc, quyết định sự hình thành và phát triển của truyền thống văn hóa dân tộc. Đồng thời, đề xuất một phương thức giúp tuổi trẻ Đại Đạo có thể giữ gìn, phát huy, “làm nổi bật thuần túy tính chất của dân tộc mà luôn khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại” .(2)
Từ khóa: văn hóa, đạo đức, văn hóa đạo đức, nhân bản, đại đồng, bản thể đại đồng nhân loại.
DẪN NHẬP
Văn hóa, theo Edward Burnett Tylor – một nhà nhân học người Anh – có nghĩa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội. (3)
Theo giáo lý Đại Đạo, văn hóa là “sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Văn hóa có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhân loại… Bản chất của văn hóa là đạo đức. Hình thức của nó là ngôn từ chương cú, giáo dục...”
Có thể nhận thấy, dù trong lãnh vực nhân học hay đạo học, văn hóa cũng được nhìn nhận là một thành phần không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển của một xã hội; từ xã hội dân tộc, xã hội tôn giáo, hay rộng lớn hơn là xã hội nhân loại. Hơn hết, trong cả hai định nghĩa về văn hóa vừa nêu trên, yếu tố đạo đức không chỉ được đề cập, mà còn được nhấn mạnh như một yếu tố căn bản, trọng yếu trong việc xác lập và tạo nên những bản sắc tuyệt mỹ nhất cho một nền văn hóa của một xã hội. 
Ở lãnh vực nhân học, Edward Burnett Tylor cho rằng: văn hóa bao gồm một chỉnh thể phức hợp, trong đó có đạo đức, mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội. Ở lãnh vực đạo học, giáo lý Đại Đạo khẳng định: bản chất của văn hóa là đạo đức. Như vậy, đạo đức không chỉ là một phạm trù không thể thiếu của văn hóa, mà còn là bản chất của văn hóa. Khi nói: đạo đức là bản chất của văn hóa, ta hiểu điều này đồng nghĩa với: đạo đức là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của văn hóa. Mà văn hóa “có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhân loại”, do đó, đạo đức là yếu tố không thể thiếu của một xã hội, và có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn trong sự hình thành và phát triển của xã hội đó.
Đối với xã hội dân tộc Việt Nam, yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc là gì? Có phải là đạo đức? Bản chất của văn hóa dân tộc Việt Nam là gì? Có phải là văn hóa đạo đức? Và tuổi trẻ Đại Đạo phải làm những gì để giữ gìn, phát huy và làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc ấy theo đường lối mà Đức Giáo Tông Vô Vi đã dạy, tức luôn khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại. Lời đáp cho tất cả những câu hỏi này đều đã được giáo lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ giải đáp qua những lời thánh ngôn, thánh giáo của các Đấng Thiêng Liêng. Và bài viết này sẽ mượn những lời dạy ấy để lần lượt làm sáng tỏ những vấn đề vừa nêu. Từ đó, khẳng định giá trị đạo đức, hay văn hóa đạo đức dân tộc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sứ mạng thực hiện cứu cánh đại đồng nhân loại mà mỗi mỗi con người Việt Nam phải trân trọng và giữ gìn.
I. TÍNH CHẤT DÂN TỘC VIỆT
1. Tính chất dân tộc thể hiện qua ngàn năm lịch sử.
Khởi đầu có lẽ nên là sự quay ngược dòng lịch sử, trở về nguồn cội xa xưa của dân tộc Việt Nam từ thời vua Kinh Dương Vương, vị quốc tổ của dân tộc. Từ thời Kinh Dương Vương, đến Lạc Long Quân, và mười tám đời Hùng Vương, đời sống của dân tộc Việt Nam xưa (thời Hồng Bàng) có lẽ được xem là “đời Thượng Ngươn Thánh Đức” thật sự của dân tộc. Ở giai đoạn này, đời sống người dân được ấm no, hạnh phúc, cuộc sống an lạc, thái bình trong suốt khoảng thời gian gần 2500 năm. Bởi có sự ấy là do ở đạo đức cao trọng của các bậc quốc tổ xưa, xem dân chúng là gốc, dùng đức trị mà xây dựng được một xã hội đại đồng dân tộc. Dân chúng tôn sùng và kính trọng các vị quốc tổ trong sự kính ngưỡng về đạo đức cao tột. 
Từ những điển tích xưa, những câu truyện cổ, những truyền thuyết hay những câu truyện huyền thoại được nhân gian truyền lại, chúng ta dường như được gieo vào ý thức từ khi còn bé về dòng máu rồng tiên, về nguồn cội “con Rồng cháu Tiên” của mình; về những cuộc chiến huyền thoại đầy phép lạ của các vị Thần thời Hùng Vương (Sơn Tinh – Thủy Tinh),… tất cả đều như cho ta cảm giác về một thế giới, một thời đại mà nơi đâu cũng có sự hiện diện của Thần, Tiên có nhiều phép nhiệm mầu; đời sống thánh đức mà muôn dân được hưởng là do đó mà có được, và chúng ta đây là những thế hệ con cháu của các vị Thần, Tiên uy hùng ấy. Nghe có vẻ thật kiêu hãnh thay. Nhưng không! Ngược lại, theo những lời văn được viết trong các quyển sách lịch sử xưa như “Lĩnh Nam chích quái” hay “Đại Nam Quốc Sử diễn ca” thì điều khiến tổ tiên ta – hay muôn dân sống trong đời đại đồng thánh đức ấy – kính trọng các bậc quốc tổ đó chính là do ở đạo đức cao thượng, những phẩm hạnh, đức độ và tài năng vượt trội, vượt bậc hơn hẳn người thường, có thể ví như các bậc thánh nhơn. Các sách này còn ghi lại, các bậc quốc tổ xưa còn là những con người ham cầu tu theo đường thiên đạo, hướng đến giải thoát, siêu phàm nhập thánh. Có lẽ chính những phẩm chất đạo đức sáng ngời ấy, mà các vị quốc tổ xưa mới có thể duy trì được một xã hội đại đồng dân tộc mà cho đến đời nay, muôn dân còn kính ngưỡng.
Như thế, sự quay ngược dòng lịch sử về đời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 đời Hùng Vương không phải chỉ để là một chuyến du ngoạn thường tình, mà là để khẳng định một sự thật lịch sử đó là: điểm quan yếu đem đến cuộc sống an bình thịnh trị của dân tộc Việt Nam xưa trong suốt một khoảng thời gian rất dài, là do: các vị quốc tổ có phẩm hạnh, đức độ hơn người, dùng đức trị để cai trị thiên hạ; và người dân hạnh hưởng đạo đức cao trọng ấy, kính phục và đối đãi với mỗi một người trong dân tộc mình cũng y theo đường lối đạo đức.
Trở về với những gì thường gần gũi hơn khi nhớ về truyền thống dân tộc, đó là những câu ca dao, tục ngữ, truyện cười,… mà ông cha ta đã truyền lại. Những câu ca dao, tục ngữ bàng bạc đa dạng các chủ đề trong cuộc sống nhân thế nào là về tình phụ - tử, nghĩa vợ - chồng; nào là lòng yêu quốc gia, yêu dân tộc; nhưng, không thời đại nào, không giây phút nào thiếu vắng những câu tục ngữ hướng về đời sống đạo đức của con người, như: 
Đường mòn nhân nghĩa không mòn. 
hay
Người còn thì của cũng còn
Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi.
hoặc 
Dù ai nói ngược nói xuôi
Ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng.
Chắc hẳn, mỗi khi đọc hay ngân nga những câu ca dao - tục ngữ này, bất kì một con người nước Việt, trong khoảnh khắc, cũng cảm thấy như được khai sáng điều gì đó sâu thẳm bên trong tâm hồn, khiến cho bản thân muốn làm điều nhân nghĩa, giữ trọn sự nghĩa nhân, học theo điều đạo lý để xứng là một người con đất Việt, noi đúng theo những tấm gương đạo đức thanh cao mà cha ông bao đời truyền lại. Nhưng tất cả những điều ấy, có gọi là truyền thống văn hóa đạo đức dân tộc chăng?
Hai trọng điểm vừa nêu, nếu thật sự có là hai trọng điểm đủ để chúng ta có thể khẳng định phần nào đạo đức là một phần dân tộc tính của mình, thì sự kết luận ấy cũng hoàn toàn là sự khẳng định cảm tính của mỗi con người Việt Nam, dựa trên những giai thoại, sự kiện lịch sử, cũng như văn hóa dân tộc. Và như thế, thì cơ sở thuyết phục vẫn còn thiếu sự vững chắc. Vậy thì, cần phải có thêm những trọng điểm khác, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao hơn để bảo vệ sự khẳng định này; và những trọng điểm ấy nằm ở nơi thánh giáo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
2. Tính chất dân tộc qua lời dạy của Đức Thượng Đế về nguyên nhân khai đạo tại Việt Nam
Trong một lần giáng đàn dạy đạo tại Thiên Lý Đàn, Tuất thời 30-10 Mậu Thân (19-12-1968), Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã dạy như sau:
“Các con là dân tộc Việt cũng như các dân tộc khác sanh trưởng tại quả địa cầu này. Tình thương Tạo Hóa cũng ban đồng cho các con cũng như các con khác, nhưng dân tộc các con đã đau khổ quá nhiều. Non sông Tổ Quốc các con đã bị giày xéo lâu đời, nhưng các con được trội hơn chúng về đức tin, về lòng đạo đức ngưỡng mộ Thượng Đế và các Đấng trọn lành. Tình thương các con không thiếu, lòng hiếu hòa các con có thừa, do đó dân tộc các con mới hạnh ngộ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.” (4)
Ở lời dạy trên, chúng ta cần lưu ý các cụm từ quan trọng: đức tin, lòng đạo đức, tình thương, lòng hiếu hòa. Xét về mặt từ ngữ, tất cả những cụm từ này, đều là những cụm từ thể hiện đời sống tâm linh, tinh thần của con người; hoặc thể hiện yếu tố nội tâm bên trong hoặc thể hiện phương cách mà con người đối đãi với nhau ngoài đời sống. Còn xét về mặt giá trị, tất cả những cụm từ này đều là những cụm từ có giá trị cao đẹp, có khả năng đem lại cho mỗi cá thể nhân sinh một đời sống an lạc, tiến bộ và hạnh phúc trên phương diện tinh thần. Và tất cả những cụm từ này được Đức Cao Đài nhắc đến và khẳng định như những tính chất riêng biệt hoặc nổi trội của xã hội dân tộc Việt. Ngoài ra, tuy có khác nhau về mặt từ ngữ, nhưng nếu xét tận cùng chơn lý, ý nghĩa của mỗi từ-cụm từ trên, có thể thấy chúng đều xuất phát từ một nguồn cội duy nhất, đó là đạo đức. 
Như vậy, qua lời dạy của Đức Thượng Đế, đạo đức một lần nữa được khẳng định có vị trí quan trọng trong truyền thống văn hóa dân tộc, là bản chất; hay là điểm quan yếu hình thành và phát triển bản sắc dân tộc. Và, do giá trị cao đẹp của đạo đức đem đến cho mỗi con người, cũng như vị trí chưa bao giờ có thể thay thế được của đạo đức trong lòng mỗi người con đất Việt qua ngàn năm lịch sử, nên nó đã trở thành một nét đẹp trong nét đẹp tổng thể của Văn hóa dân tộc Việt Nam, gọi là văn hóa đạo đức dân tộc. 
Vậy thì, một câu hỏi khác được đặt ra: bản chất của đạo đức hay bản chất của văn hóa đạo đức ấy là gì? Lời đáp cho câu hỏi này, Phật giáo gọi là Chơn Tâm, là Như Lai, là Phật Tánh; Nho Giáo gọi là Thiên Tâm; và giáo lý Đại Đạo gọi đó là Nhân Bản.
II. NHÂN BẢN – BẢN CHẤT VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC
Vì sao Nhân bản là bản chất, là nguồn cội của đạo đức dân tộc? Vì Nhân bản “là gốc của con người… Khái quát là như vậy.” (5)
Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong một gia đình là tế bào của gia đình ấy, vì thế, vai trò của con người trong sự thành bại của xã hội là rất quan trọng. Một quốc gia hưng thịnh khi và chỉ khi mỗi một xã hội gia đình trong quốc gia ấy hưng thịnh. Một gia đình hưng thịnh khi và chỉ khi mỗi một thành viên trong gia đình ấy đều có ý thức tưởng nhớ, giữ gìn và phát huy nguồn cội – cái gốc của mình. 
Với chữ Nhân là con người – tiểu vũ trụ, nhân bản là cội nguồn, nền móng, cốt lõi và khuôn mẫu cho con người. (6) Ở khía cạnh này, nhân bản – hay cái gốc của con người – chính là điểm Tiểu Linh Quang phát xuất từ khối Đại Linh Quang, là Bản Linh Chơn Tánh, là những gì Chơn chánh, Thiện, Mỹ nhất. Con người Nhân Bản là con người luôn không ngừng hướng nội, tìm về điểm Nhân bản trong lòng mình, giữ gìn và phát huy điểm Đạo tự hữu sáng ngời ấy để tư tưởng ngày một hướng thượng, vượt trên lục dục thất tình, tiến lên những nấc thang tiến hóa cao hơn về tâm linh; nhìn nhận mọi việc theo như chính bản chất của chúng, thông tường, sáng suốt mọi lý mọi lẽ.
Với chữ Nhân là nhân sinh – đời sống cộng đồng của nhân loại, nhân bản có nghĩa là cội nguồn, nền móng, cốt lõi và khuôn mẫu cho đời sống cộng đồng ở bất kỳ quy mô xã hội nào, từ gia đình cho đến toàn nhân loại. (7) Ở khía cạnh này, nhân bản là cội nguồn, nền móng, khuôn mẫu chung cho tất cả, cho bất kỳ một xã hội, một hình thức đời sống nào trên thế giới này, từ gia đình, đến xã hội, tôn giáo, đến thế giới nhân loại. Cụ thể hơn, Nhân Bản ấy là những quy tắc, điều luật, những trật tự, những phong tục thuần chơn, thiện, mỹ; giúp nhân loại có thể dễ dàng nhận ra, dễ dàng hòa đồng với sự phát triển tự nhiên của tâm linh, của Tự Tánh; không đi ngược lại với đạo lý, thiên nhiên; giúp con người có thể hòa thuận, gắn bó với nhau ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh; được nhân loại chấp nhận, đồng cảm, trân trọng và thừa hành. 
Tổng quát chung là thế, còn sâu sắc hơn nữa sẽ tùy thuộc vào quy mô của từng mô hình xã hội cụ thể. Như đối với quy mô xã hội là gia đình, nhân bản ấy thể hiện rõ nét nhất ở lòng luôn tưởng nhớ đến nguồn cội Tổ tiên sanh thành của mình, ghi nhớ công ơn dưỡng dục của ông bà cha mẹ. Đối với quy mô xã hội đời sống, nhân bản ấy thể hiện rõ nét nhất ở sự tưởng nhớ về công ơn dựng nước và giữ nước của các vị quốc tổ, các vị anh hùng dân tộc, v.v…
Đến đây, chúng ta đã hiểu rõ được Nhân Bản là gì. Vậy thì, Nhân Bản há chẳng phải là cái quyết định dân tộc tính? chẳng phải là nguồn gốc, bản chất tạo nên tất cả những điểm, hay, tính chất đạo đức của một xã hội, một dân tộc?
Nhân bản là gốc của con người, là Bản Thể Tự Tánh, cũng chính là TÂM của con người. Do đó, con người noi theo đường đạo đức, tức là quay về với cái CHƠN TÂM đủ đầy sự tốt đẹp, anh linh, là tìm lại Nhân Bản của mình vậy. Vì thế mà từ cổ chí kim, các bậc Thánh Nhân xưa, cũng như các vị giáo tổ Tam giáo từ thời Nhứt Kỳ, Nhị Kỳ đều khuyên con người phải luôn nhớ về sứ mạng vi nhơn – sứ mạng phục hồi nhân bản của mình, như lời dạy của Đức Lục Tổ Huệ Năng:
“Này đại chúng! […] Tâm là đất, Tánh là vua, vua ở trên đất Tâm, Tánh còn thì vua còn, Tánh đi thì vua mất, Tánh ở thì thân tâm còn, Tánh đi thì thân tâm hoại. Phật nhằm ở trong Tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự Tánh mê tức là chúng sanh, tự Tánh giác tức là Phật.” (8)
Hay lời dạy của Đức Đạt Ma Tổ Sư – vị khai sáng phái Thiền-tông của Phật-giáo ở miền Đông-độ: “Phái ta không phải dạy dông dài, cứ chỉ ngay cái tâm của con người; hễ ai thấy được tánh ở trong tâm thì thành Phật.” (Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật) . 
Chúng ta cũng có thể thấy sự hiện diện của Nhân Bản, của Bản Tánh, của Chơn Tâm trong triết lý Nho Giáo qua cụm từ “Đạo Tâm”, như trong Kinh thơ có viết: “Nhơn Tâm duy nguy, Đạo Tâm duy vi”, tức lòng nhơn dục rất nguy hại, lòng Đạo đức rất tinh vi. 
Và một điều chắc chắn, đến Tam Kỳ Phổ Độ, giáo lý Đại Đạo tiếp tục hướng con người quy phục Nhân Bản:
“Cái tâm con người sáng suốt, quán cổ, tri kim, hay khiến con người làm điều hay, sự phải, giục con người mến đạo đức, chuộng tinh thần, biết thuận theo thiên lý.
[…] Cái tâm thì là thiện, là sáng suốt, nhưng bị vật dục ngoài đưa đẩy vào làm cho choán cái thanh quang, sanh lòng quấy phá, mà cái tâm thì tức là TÁNH, TÁNH tức TÂM. Người quân tử bao giờ cũng giữ cái tâm cho thanh bạch tịnh an” .(9)
Như vậy, Nhân Bản thật đóng vai trò trọng yếu trong việc gìn giữ dân tộc tính cũng như phát huy truyền thống văn hóa đạo đức dân tộc. Sự khuyên dạy phải phục hồi nhân bản mà con người được mặc khải từ các bậc thánh nhơn, các vị Giáo Tổ hay các Đấng Thiêng Liêng cũng là điều không thể chối từ. Và nếu như thế, khi đã ý thức được tầm mức quan trọng của Nhân Bản, mỗi người tín đồ đạo Cao Đài nói chung, hay tuổi trẻ Đại Đạo nói riêng phải có những suy nghiệm gì, những hành động thiết thực như thế nào để làm nổi bật thuần túy tính chất của dân tộc mình trong nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đạo đức của dân tộc?
III. TUỔI TRẺ ĐẠI ĐẠO VÀ SỨ MẠNG LÀM NỔI BẬT THUẦN TÚY TÍNH CHẤT DÂN TỘC KHẾ HỢP BẢN THỂ ĐẠI ĐỒNG NHÂN LOẠI
Qua sự phân tích ở hai mục trên, chúng ta biết rằng “tính chất dân tộc” của con người đất Việt là Tâm, là Tánh, là Nhân Bản, là đạo đức, là những gì thúc giục con người phải hướng theo đường thiên lý, hành sự, suy nghĩ thuận theo lẽ Trời, đúng với sứ mạng vi nhơn. Hiện thực hóa được những điều trên trong cuộc sống nhân thế thường ngày, là con người đang làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc của mình. Còn thế nào là Bản thể đại đồng nhân loại?
Bản thể đại đồng nhân loại, trong mục đích mà chúng ta đang muốn làm sáng tỏ ở mục ba này, thì cụm từ “bản thể đại đồng” là một cụm từ đóng vai trò chính yếu. Hơn hết, từ “đại đồng” ở đây, không chỉ đơn thuần là một sự kêu gọi tinh thần đoàn kết giữa con người với con người trong sự chia rẽ, tranh chấp, phân biệt hiện nay; mà là một sự xác định tính bình đẳng giữa con người và con người trên căn bản đồng nhất về Bản thể. 
Mỗi con người khi hiện diện ở thế gian này, đều đã có một điểm Tiểu Linh Quang đồng nhất từ khi mới chào đời, hay cũng chính là Nhân bản. Do đó, mỗi con người khắp trong toàn nhân loại, không phân biệt sắc tộc, không phân biệt giai cấp, khi hiện diện trong cõi đời này đều đã được mang gắn cho một nhiệm vụ, một trách nhiệm, một sứ mạng như nhau đó là:
• Quay về, phục hồi và phát huy nhân bản tính của chính mình; cũng là phát huy dân tộc tính của quốc gia dân tộc.
• Mở rộng hơn ở tầm mức nhân loại, là đón nhận, tán thưởng những giá trị, những công trình hướng về Chân Thiện Mỹ phát xuất từ bất kì nơi đâu trên địa cầu; và đồng nhất trong sai biệt, nghĩa là sự thống nhất tinh thần nhân loại trên cơ sở nhận thức được sự hiện hữu của nhân loại tính (nhân bản tính) trong tất cả những biểu hiện đa dạng của dân tộc tính (10), tức là sự khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại.
Phục hồi nhân bản tính, từ đó phát huy tính chất dân tộc, cuối cùng mở rộng ra toàn thể nhân sanh trên khắp cả địa cầu. Đây chính là ý nghĩa kiếp sống làm người: phụng sự xã hội, dân tộc, đất nước cho đến thế giới nhân loại; trong đó, ở mọi phương diện đều biểu lộ sự bình đẳng, tình thương và nhân bản.
Hai chữ khế hợp, ta có thể hiểu đó là sự kết hợp một cách thật hài hòa. Sứ mạng của tuổi trẻ Đại Đạo là phải hòa quyện tính chất quốc gia, dân tộc với bản thể đại đồng nhân loại với nhau để cuối cùng là đạt đến cứu cánh đại đồng nhân loại. Loại trừ những gì về hình thức, lễ nghi, phong tục văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền thì phần còn lại, tức bản chất của dân tộc tính chính là đạo đức, là Nhân bản; và bản thể đại đồng nhân loại cũng là Nhân bản. Do đó, để có thể hòa quyện cùng nhau, nhân loại chỉ có thể gặp nhau ở yếu tính duy nhất, phổ quát và trường cửu tự trong bản thân mình, tức Nhân bản.
Vậy là, muốn làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại, hay, đạt đến cứu cánh đại đồng nhân loại; không thể nào không có Nhân Bản Tính. Muốn đạt được mục đích trên, chỉ có một con đường duy nhất đó là khai sáng Nhân bản tính trong lòng mình và trong lòng khắp cả nhân loại.
Thế thì, điểm giáo lý, kinh kệ, lễ nhạc hoặc bất kỳ một hình thức nào khác trong giáo lý Đại Đạo có đề cập về điều này? Để giúp mỗi người tín đồ Đại Đạo nói chung, tuổi trẻ Đại Đạo nói riêng có thể vận dụng, khai triển ở gia đình, xã hội, dân tộc mình; sau đó là lan rộng ra toàn nhân loại.
1. Thuộc lòng và hiểu rõ ý nghĩa nội dung kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.
Một đơn cử câu trả lời cho câu hỏi trên trong giáo lý Đại Đạo, chúng ta có bộ kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo là bộ kinh quen thuộc, gần gũi với hầu hết người tín đồ Cao Đài. Bộ kinh này bao gồm hầu hết các bài kinh trong nghi lễ đạo Cao Đài, từ các bài kinh tụng đọc hằng ngày (nhựt tụng kinh), các bài kinh trong việc tang lễ, cho đến các bài kinh xưng tụng các Đấng Thiêng Liêng,… Có thể nói, kinh Thiên Đạo và Thế Đạo là một loại hình văn hóa trong văn hóa Cao Đài, gắn liền với yếu tố lễ - nhạc của một tôn giáo; và vì thế cũng gắn liền với văn hóa lễ - nhạc của dân tộc Việt. 
Ở nơi mỗi bài kinh trong bộ kinh này, từ nhóm kinh thuộc phần kinh Thế Đạo, đến nhóm kinh thuộc phần Thiên Đạo, đều ẩn hiện đa dạng các yếu tố nhân bản bên trong, nơi từng câu kinh, lời kệ của mỗi bài. Mỗi khi tụng đọc các bài kinh Thiên Đạo hay Thế Đạo trong các hoạt động thường nhựt của mình, là lại một lần mỗi người tín hữu Cao Đài, hay mỗi thế hệ tuổi trẻ Đại Đạo có dịp nhớ lại những yếu tố nhân bản ấy, suy gẫm, nhắc nhở mình nhớ về nguồn cội nhân bản, thực hành và phát huy nhân bản đối với bản thân và đối với xã hội nhân loại.
Bên dưới đây, là một số yếu tố Nhân bản đã được tìm hiểu và diễn giải chi tiết trong một số bài kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, được trích lục từ một công trình nghiên cứu khác:
(a) Yếu tố Nhân bản trong bài kinh Tắm Thánh
Trong bài kinh “Tắm Thánh”, với câu kinh “Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi.” (11), yếu tố Nhân bản thể hiện ý nghĩa: con người vừa có phàm tánh vừa có Phật Tánh. […] Phật Tánh – là cái Tánh tối sơ, là điểm Tiểu Linh Quang của Đức Thượng Đế chiết ban từ khối Đại Linh Quang cho vạn vật, trong đó có con người, trước khi vào cõi thế gian. Tánh đó lương thiện, sáng suốt, anh minh. Và vì Tánh ấy đã có từ trước cả khi con người còn là một bào thai trong bụng mẹ nên còn được gọi là Bản (12) tánh hay Nhân Bản, tức cái Tánh gốc của con người. Tánh ấy không bao giờ bị biến đổi nên tánh ấy mang tính chất tuyệt đối. Nếu con người biết gìn giữ, phát triển thêm lên hoặc không để cho Phàm Tánh ngày một che lấp, phủ mờ thì sẽ thành Thần, Thánh, Tiên, Phật. Lập luận này được khẳng định qua lời dạy của Đức Đông Phương Chưởng Quản về Nhân Bản: “Nhân Bản, cội nguồn của con người chơn nhơn, con người hiền thánh tiên phật.” . (13.14)
Hay, trong câu kinh “Xin gìn giữ Thánh hình thanh bạch” (15), ta có thể hiểu: “Thánh hình” ở đây chính là điểm Tiểu Linh Quang, điểm Nhân Bản thiêng liêng có trong mỗi cá thể nhân sinh. Theo nghĩa đó, mỗi khi một đứa bé vừa chào đời và được cha mẹ cho Tắm Thánh; cha mẹ của đứa bé hi vọng và cầu nguyện các Đấng Thiêng Liêng phò hộ cho đứa bé luôn giữ được điểm Tiểu Linh Quang được sáng ngời, thanh khiết hầu gìn trọn bổn phận vi nhân, nên trang đạo đức, trở thành con người muôn thuở muôn phương hay con người nhân bản. (16)
Qua một vài yếu tố Nhân bản trên của bài kinh Tắm Thánh, chúng ta thấy rằng khi tham gia công quả tụng đọc bài kinh Tắm Thánh cho một hài nhi mới chào đời, chúng ta không chỉ cầu nguyện cho hài nhi vừa chào đời ấy, mà còn nhắc nhở chính bản thân nhớ về cội nguồn nhân bản của bản thân; cố gắng giữ gìn “mảnh hình trong sạch”, luôn hướng về quy phục điểm nhân bản hằng hữu. 
Các yếu tố Nhân Bản vừa trích ở trên trong bài kinh Tắm Thánh, trọng điểm đều nói về yếu tố nhân bản ở khía cạnh cá thể nhân sinh, hướng nội; có ý nghĩa nhắc nhở con người luôn phải hướng thượng, trau dồi điểm Linh Quang anh linh, rèn luyện tâm tánh, để dần tiến lên những mức thang tiến hóa cao hơn của tâm linh.
(b) Yếu tố Nhân bản trong bài Kinh Thuyết Pháp
“Trường phổ tế khó khăn lắm nỗi,
Cậy Thánh tâm sửa đổi tánh phàm.
Dìu đời với sức không kham,
Mượn quyền thuyết pháp đặng làm cơ quan.

Đại Từ Phụ hồng ân rưới khắp,
Trợ giúp con đặng lập nên công.
Muốn cho thiên hạ đại đồng,
Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh.” (17)
Nơi bốn câu kinh đầu tiên, có hai cụm từ thể hiện ý nghĩa nhân bản qua đời sống nhân loại của bài kinh là “Cậy Thánh tâm” và “Mượn quyền thuyết pháp”. Chúng ta đều biết rằng, đến thời Hạ Hạ Ngươn này, con người đang dần xa lánh Nhân Bản Tánh của chính mình, xa rời “Thánh tâm” vốn Thánh thiện, anh minh của mình; thay vào đó là ngày một để cho “phàm tính” chi phối. Vì vậy, những bậc Thiên ân hướng đạo nói chung, những con người nhận lãnh sứ mạng nói riêng đều cố gắng nuôi dưỡng tâm chí, rèn luyện tâm hạnh đức tài, mong muốn có thể mượn “quyền thuyết pháp” thiêng liêng để phổ thông, phổ truyền giáo lý đến nhân loại, hi vọng những lời kinh, những lời đạo lý có thể đi sâu vào lòng nhân thế mà vực dậy Thánh tâm, loại bỏ tánh phàm, sớm thăng tiến trên con đường tiến hóa. Trong Đại Thừa Chơn Giáo có nói:
“GIÁO là dạy cho người đời biết rõ căn bản, linh tánh phục hồi. Chữ Giáo là giáo hóa, giáo dục cho nhơn quần xã hội, phá mê những kiếp đã mang tội lỗi nặng nề. Nhờ cái cơ Giáo mà loài người được tấn hoá một cách lẹ làng, bước đến nấc thang văn minh, tinh thần đạo đức đời nọ sang đời kia, liên tiếp mãi nhau, không bao giờ ngừng nghỉ.” (18) 
Việc thuyết pháp hay truyền giảng giáo lý có thể nói là một phương cách quan trọng và chính yếu nhất trong vô vàn phương cách khác nhau của việc phổ thông, phổ truyền giáo lý Đạo mầu, đem điều Đạo lý vào lòng nhân thế. Vì thế, những hành động hay tư tưởng thể hiện việc làm này chính là những hành động và tư tưởng mang ý nghĩa Nhân bản, chứa đựng tinh thần nhân bản ở mức cao tột nhất, ở mức vị nhân loại, vị nhân sanh, ở mức độ tự độ và độ tha. (19)
Như vậy, việc thuộc lòng và hiểu rõ ý nghĩa, nội dung của các bài kinh Thiên Đạo và Thế Đạo là một việc làm, một hành động vô cùng cần thiết, hữu ích cho bản thân mỗi người thanh thiếu niên Đại Đạo; và là một trong những phương cách vô cùng thiết thực để tuổi trẻ Đại Đạo thực hiện được sứ mạng “làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại”. Vì tất cả những nội dung nhân bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo đều phù hợp với lời Thánh Ý:
“Tuy những dân tộc loài người trên quả đất được phân biệt, an định ở mỗi khuôn khổ, vị trí và hoàn cảnh xã hội xa nhau, khác nhau, song sự xa cách, sự khác biệt ấy không phải là vấn đề cho con người quên mất nguồn gốc mình vốn một, quên mất bản chất mình là nhân từ như Thượng Đế, [để] che chở lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau giữa người và người, đồng thời săn sóc gìn giữ sự yên ổn cho bao loài hạ tiện khác đang sống dưới tầm mắt trí khôn của nhân loại.” (20)
Muốn làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc, không cách nào khác là con người phải sớm đánh thức điểm nhân bản trong chính mình và khuếch đại điểm nhân bản ấy lan rộng cho tất cả mọi người trong quốc gia, dân tộc mình; từ đó, mở rộng hơn nữa ra tầm mức nhân loại. 
2. Vận dụng nội dung Nhân bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo vào đời sống nhân sinh.
Để thực hiện thành công phương cách trên, đòi hỏi mỗi một người thanh thiếu niên Đại Đạo phải có một sự kiên trì, bền bỉ theo thời gian. “Mưa dầm thấm đất”, qua thời gian, những gì trong trí nhớ, trong tâm tưởng của con người Đại Đạo không chỉ là những câu kinh, lời kệ đơn thuần, mà là một tinh thần, một tiềm thức, một tư tưởng – hành động theo phản xạ. Tinh thần ấy, tiềm thức ấy chính là tư tưởng luôn suy nghĩ và hành động vì tha nhân, vì xã hội dân tộc, vì nhân loại một cách vô điều kiện, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, trong bất kì hoàn cảnh nào; từ những việc nhỏ nhất, tầm thường đến phi thường; không phân biệt quốc gia dân tộc, không phân biệt địa vị, giai cấp. 
Thử hỏi, nếu mọi thành viên trong một gia đình, mọi gia đình trong xã hội quốc gia, mọi quốc gia dân tộc trên thế giới đều luôn tâm niệm và làm được như vậy thì thế giới có sớm đại đồng nhân loại? Mỗi con người có đang làm nổi bật tính chất sáng ngời của quốc gia, dân tộc?! Chính là như vậy.

IV. KẾT LUẬN
Qua những gì đã cùng nhau phân tích ở các mục trên, bài viết đã từng bước trả lời những câu hỏi đã đặt ra ở đầu bài về vấn đề “Tính chất dân tộc và khế hợp bản thể đại đồng nhân loại”. Muốn làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc, hay, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, không cách gì khác là mỗi con người Việt Nam nói chung, và nhất là chúng ta – tuổi trẻ Đại Đạo – nói riêng phải nhận thức đúng đắn, gìn giữ và phát huy được bản sắc văn hóa đạo đức của dân tộc, vì “bản chất của văn hóa là đạo đức”. Bản chất của văn hóa đạo đức ấy, cũng không gì khác, chính là Nhân Bản, là Bản Tính, là những gì đẹp đẽ, Chơn Chánh, Thiện, Mỹ nhất của đạo đức con người. 
Có quay về và gìn giữ được điểm nhân bản trong mình, con người mới có hi vọng tiến lên được cấp độ cao hơn đó là lan rộng điểm nhân bản này ra cho xã hội, dân tộc mình và cấp độ cao tột nhất là lan rộng ra toàn nhân loại. Ý nghĩa của hai từ “lan rộng” ở đây, có nghĩa là khai sáng điểm nhân bản trong lòng mỗi cá thể nhân sanh trong cả nhân loại; để tất cả nhân loại đều nhìn thấy điểm Đạo tự hữu của mình, nhìn nhận bản thể đại đồng nhân loại và cùng góp tay trong việc hoát khai điểm Đạo tự hữu ấy khắp toàn nhân loại.
Nếu mỗi con người Việt Nam nói chung, tuổi trẻ Đại Đạo nói riêng đều biết hoát khai điểm Linh Quang tuyệt đẹp, tuyệt mỹ của mình ra khắp quốc gia, dân tộc; và rộng lớn hơn là ra toàn nhân loại trong tinh thần đồng nhất trong sai biệt, không câu nệ vào hình thức, bản sắc văn hóa riêng ở mỗi dân tộc; trong tinh thần đại đồng nhân loại, đó là chúng ta đang mỗi ngày mỗi làm nổi bật thuần túy tính chất dân tộc mình khế hợp với bản thể đại đồng nhân loại vậy. ¾

__________________________

1-tranngocnhuquynh91@gmail.com
2-Đức Đông Phương Chưởng Quản. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 19-02 Bính Dần.
3-E.B. Tylor – Văn Hóa Nguyên Thủy, I, 1871
4-Thánh Giáo Sưu Tập 1968-1969. Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Vì sao Đức Thượng Đế gieo mối Đạo tại Việt Nam, tr.97.
5-Đức Đông Phương Chưởng Quản; Trúc Lâm Thiền Điện, Tuất thời, 17-7 Tân Hợi.
6-Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 2008, tr.207.
7-Ibid, tr.208.
8-Đức Lục Tổ Huệ Năng. Pháp Bảo Đàn Kinh.
9-Đại Thừa Chơn Giáo. Luận về chữ Tâm, tr. 343-344
10-Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 2008, tr.237.
11-Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Kinh Tắm Thánh, tr.39.
12-“Bản” là cơ bản, là gốc
13-Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, Chương Nhân Sinh, Mục 2 – Nhân Bản, tr.218.
14-Trần Ngọc Như Quỳnh, Luận văn Tốt nghiệp lớp Tu Sĩ – Nhân Bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, 2012.
15-Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Kinh Tắm Thánh, tr.39.
16-Trần Ngọc Như Quỳnh, Luận văn Tốt nghiệp lớp Tu Sĩ – Nhân Bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, 2012.
17-Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Kinh Thuyết Pháp, tr. 95.
18-Đại Thừa Chơn Giáo, Giải nghĩa bốn chữ “Đại Thừa Chơn Giáo”, tr. 52.
19-Trần Ngọc Như Quỳnh, Luận văn Tốt nghiệp lớp Tu Sĩ – Nhân Bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, 2012.
20-Thánh Giáo Sưu Tập 1970 - 1971, Quan niệm về Nhân bản, tr. 267. 


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý. Yếu điểm giáo lý Đại Đạo. Nxb.Tôn Giáo, 2008, bản in.
[2] Tòa Thánh Tây Ninh. Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. 1992, bản in.
[3] Phái Chiếu Minh. Đại Thừa Chơn Giáo. Nxb. Tôn Giáo, 2006, bản in.
[4] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý. Thánh Giáo Sưu Tập 1968 – 1969. Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2011, bản in.
[5] Trần Ngọc Như Quỳnh. Nhân bản trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Luận văn Tu sĩ, 2012.
TRẦN NGỌC NHƯ QUỲNH


Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

NỮ GIỚI TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẠO CAO ĐÀI

Bài tham luận của Hội thánh Tiên thiên tại Hội thảo khoa học về nữ giới Cao Đài

NỮ GIỚI TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẠO CAO ĐÀI

1. Các nguyên tắc tổ chức Đạo Cao Đài

- Tam đài phân lập


Cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài gồm ba cơ quan chính gọi là Tam Đài. Ba cơ quan này tượng trưng cho ba yếu tố của con người: Bát Quái Đài đại diện phần vô vi, tượng trưng cho linh hồn; Cửu Trùng Đài đại diện phần đời, tượng trưng phần xác; Hiệp Thiên Đài là phần bán hữu hình thuộc về nửa đời nửa đạo, tượng trưng cho Chơn thần. Tam Đài là ba cơ quan có quyền hành cao nhất trong đạo đó.

Bát Quái Đài: Là nơi thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần. Các vị này đại diện cầm quyền ở cõi vô hình mà tín đồ tin tưởng và hướng đến để chiêm bái, cầu nguyện. Thế giới thiêng liêng trong Đạo Cao Đài được chia thành nhiều thứ bậc, cầm quyền chủ quản để siêu rỗi. 

Như vậy, cơ cấu tổ chức tại Bát Quái Đài gồm những thành phần thuộc về Thiêng Liêng, Đây là cơ quan cao nhất trong Đạo.

Cửu Trùng Đài là cơ quan hữu hình, đây là cơ quan có trách nhiệm dìu dắt con người vào cửa đạo để được về với Thượng Đế. Cửu Trùng Đài chia làm hai phái: Nam phái và nữ phái, chia làm 9 bậc gọi là Cửu phẩm. Đứng đầu là Giáo tông, sau đến Chưởng pháp, Đầu Sư, Phối Sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, chức việc và tín đồ. 

Hiệp Thiên Đài: là cơ quan có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ luật lệ trong đạo. Ngoài ra đây còn là cơ quan giữ quyền bảo vệ chân truyền của Đạo, là cái gạch nối giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài cho Trời hiệp với người. Đứng đầu Hiệp Thiên Đài là Hộ pháp và các phẫm vị khác.

- Lưỡng phái bình đẳng

Trong cơ cấu tổ chức của Hội Thánh Cao Đài chia làm hai phái: Nam phái và Nữ phái. 

Đầu Sư nam lãnh đạo Nam phái, Đầu Sư nữ lãnh đạo Nữ phái, gọi chung là Cửu Trùng Đài lưỡng phái, được đặt ngang nhau về phẩm vị chức sắc và nhiệm vụ chức trách. 

Đối với Nữ phái thì có 7 phẩm bậc từ tín đồ lên đến Đầu sư có trách nhiệm và quyền hạn đặt ngang hàng với Nam phái. 

- Dân chủ tập trung

Tổ chức của Hội thánh Cao Đài có hai cấp: Cơ quan giáo quyền Trung ương và họ đạo cơ sở.

+ Cơ quan giáo quyền Trung ương: 

Thượng hội: Thành phần gồm có các phẩm như Thượng phẩm, Thượng sanh, Tam Bảo Thời Quân (Bảo Đạo, Bảo Pháp, Bảo Thế) Hiệp Thiên Đài và phẩm Giáo Tông, 3 Chưởng pháp, 3 Đầu sư nam, 1 Đầu sư nữ Cửu Trùng Đài. Thượng hội là cơ quan cao nhất của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nhiệm vụ như: Chủ trì các sinh hoạt tín ngưỡng và giữ gìn chân truyền Đạo pháp của Đức Chí Tôn.

Hội thánh: Thành phần gồm các chức sắc đang hành đạo từ Sĩ tải, Truyền trạng, Giám đạo, Thập nhị Bảo quân, Thập nhị Thời quân của Hiệp Thiên Đài và Giáo hữu, Giáo sư, Phối sư của Cửu Trùng Đài lưỡng phái. Hội thánh là cơ quan lãnh đạo trong hành chính đạo tờ Hội Thánh đến Họ đạo cơ sở..

- Thống nhất hành đạo

Việc hành đạo của Đạo Cao Đài được thống nhất qua 3 hội.

Hội nghị Nhơn Sanh: Là hội nghị mà thành phần tham dự là các Đại biểu Nhơn sanh, nhằm phản ánh nguyện vọng của nhơn sanh trong quá trình hành đạo, từ đó đề xuất kiến nghị lên Hội thánh, đồng thời giám sát các hoạt động của Hội thánh. Hội nghị Hội Thánh: Là hội nghị do Hội Thánh triệu tập, nhằm xét kiến nghị của Hội Nghị Nhơn sanh, lập thành đường lối kế hoạch hành đạo để trình lên Thượng Hội phê duyệt.

Hội nghị Thượng Hội: Là hội nghị của thành phần lãnh đạo cao nhất trong toàn nền Đạo, do các chức sắc Thượng hội triệu tập và chủ trì có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch hành đạo 5 năm và chương trình hành đạo 1 năm của Hội Thánh, đồng thời đưa ra các chủ trương mang tính trọng yếu của Đạo.

Tóm lại, trên nền tảng chung về cơ cấu như Tam quyền, lưỡng đài, ba hội, tổ chức của Đạo Cao Đài được hình thành một cách quy củ, thể hiện phần nào mong muốn xây dựng một thể chế dân chủ, bình đẳng nam nữ và thể hiện sự vững mạnh của Đạo Cao Đài nhờ vào cơ cấu tổ chức.


2. Vai trò nữ giới trong tổ chức Đạo Cao Đài 

Nét đặc trưng quan trọng trong lịch sử tôn giáo xưa nay là Đạo Cao Đài rất coi trọng sự bình đẳng nam nữ, nên đã sớm chủ trương nam nữ bình quyền trong hệ thống tổ chức của giáo hội và cả đời sống tôn giáo hằng ngày. Mặc dù được ra đời tại một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến mà lại chủ trương nam nữ bình đẳng, đây là yếu tố đi trước thời cuộc và xã hội. Trong khi phụ nữ Hồi giáo không được đến nhà thờ, phụ nữ Thiên Chúa giáo không được làm Linh mục và trong các tôn giáo bản địa cũng ra đời tại Nam Bộ thì người phụ nữ không có chức phận gì trong tổ chức giáo hội thì trong cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài, vai trò, vị trí của nữ giới lại được xem trọng như nam giới. 

Trong Pháp Chánh Truyền có ghi: “Hễ bao nhiêu nam tức cũng bấy nhiêu nữ, nam nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ phái buổi lập Pháp Chánh Truyền”. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: “Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ cả nam và nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Các đấng nữ Tiên, nữ Phật còn lớn quyền thế hơn cả nam nhiều”, hay Nam nữ vốn đồng quyền…, Giáo hữu Nam phái cũng chịu dưới quyền Giáo sư Nữ phái”.

Đạo Cao Đài chấp nhận nữ giới trong hệ thống tổ chức tôn giáo của mình. Nữ giới giữ vai trò, phẩm vị gần như ngang bằng với nam giới. Đặc biệt trong cơ quan Cửu Trùng Đài, nam giới giữ “Cửu phẩm thần tiên”, thì nữ giới cũng chiếm đến “Thất phẩm thần tiên”. Nữ phái giữ chức vụ như nam phái, cao nhất là Đầu sư. Chỉ riêng phẩm Chưởng pháp và Giáo tông nữ giới không được giữ vì theo giáo lý Cao Đài thì hai phẩm này tượng trưng cho Dương vị, thì phải do nam phái nắm quyền chưởng quản, bởi theo lý đạo: Dương phải vượt Âm thì đạo mới phát triển:

“Thiên địa hữu âm dương, dương thạnh tắc sanh, âm thạnh tắc tử, cả Càn Khôn Thế Giới nhờ dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi dương quang, ngày nào mà dương quang đã tuyệt, âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giới phải chịu trong hắc ám mà bị tiêu diệt. Nam ấy dương, nữ ấy âm, nếu Thầy cho nữ phái cầm quyền Giáo tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho âm thắng dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám muội.

Chưởng pháp cũng là Giáo tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ pháp nơi Cửu Trùng Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo tông thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ pháp con. Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên cơ đã định, Thầy chỉ dạy con để dạ thương yêu bênh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp” 
[Thánh ngôn hiệp tuyển, tr.235-236]

Thánh giáo của Đạo Cao Đài đề cập rất rõ việc nữ giới giữ phẩm vị trong tổ chức tôn giáo:
“Đường thị! Thầy giao phe nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài. Phần các con truyền đạo kỳ Phổ độ nầy cũng lắm nặng nề; bao nhiêu Nam tức bao nhiêu Nữ; Nam biết thành Tiên Phật, chớ Nữ lại không sao? Thầy đã nói Bạch Ngọc Kinh có cả Nam và Nữ, mà phần nhiều Nữ lấn quyền thế hơn Nam nhiều. Vậy con phải tuân lịnh Thầy mà lập thành Nữ phái. Nghe và tuân, Thầy hằng ở bên con, lo chung cùng con; con chớ ngại”
[Thánh ngôn hiệp tuyển, tr.32-33]

Trong Đạo Cao Đài, việc tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn trong được xem như là sự tiếp nối tư tưởng kính trọng và thờ phụng Thánh Mẫu của cộng đồng cư dân Nam Bộ. Trong văn hóa Nam Bộ, yếu tố Nữ Thần và Thánh Mẫu chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian. Cụ thể là các vị như: Lê Sơn Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Mẫu Thiên, Mẫu Địa và các vị Nữ thần như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Vị Tiên Nương… đã xuất hiện lâu đời trong hệ thống thờ tự của cư dân Nam Bộ. Đạo Cao Đài đã tiếp thu yếu tố này và chọn Diêu Trì Kim Mẫu như là một biểu trưng nhằm dung hòa tín ngưỡng truyền thống tại Nam Bộ, đồng thời cũng để giải thích về triết lý Âm – Dương theo giáo lý Cao Đài.

Chữ Diêu, hoặc Dao, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quý báu. Chữ Trì là ao nước hay là hồ nước. Chữ Diêu Trì hợp lại có nghĩa là ao nước hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quý báu. Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các kim loại như bạc, đồng… thuộc về Tây Phương. Theo Bát quái Hậu thiên, Kim này ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim. Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể thuộc về hữu hình. Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Hữu danh, vạn vật chi mẫu”, nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, nó là Mẹ sinh muôn vật.

Theo vũ trụ quan Cao Đài Tiên Thiên, khi chưa có trời đất, còn trong thời kỳ hỗn mang hay hồng mông, vũ trụ chỉ là một khoảng không mờ mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược chưa phân, nhưng vô cùng huyền diệu, chỉ có một chất khí gọi là “Tiên Thiên hư vô chi khí”. Khí hư vô ấy quay vòng rồi ngưng kết, phát ra một tiếng nổ lớn, sinh ra một điểm Thái Cực, Đạo Đức Kinh gọi đó là: “Đạo tự hư vô sanh nhất khí” tức khối Đại Linh Quang, Đại hồn của vũ trụ với tính trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng. Từ đây, vũ trụ bắt đầu có ngôi Thái Cực duy nhất, là Đại hồn của một đấng duy nhất gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà tín đồ Cao Đài thường gọi là Đức Chí Tôn. 

Từ ngôi Thái Cực, mới phân lập ra hai Nghi Âm - Dương và chưởng quản phần Dương quang, đồng thời hóa thân ra Diêu Trì Kim Mẫu từ khối Vô Cực ban đầu để chưởng quản phần Âm quang. Vậy, nguồn gốc của Diêu Trì Kim Mẫu là hóa thân đầu tiên của Ngọc Hoàng Thượng Đế để làm chủ khí Âm quang, cầm phân nửa quyền lực với Ngọc Hoàng Thượng Đế và luôn tùng theo mạng lịnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Sau đó, Diêu Trì Kim Mẫu thâu lằn sinh quang của ngôi Thái Cực, đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo ra các tầng trời, tinh cầu và các địa cầu, tạo thành Càn khôn vũ trụ. Tiếp theo, định vị Kim Bàn nơi Tạo Hóa Thiên mà sinh hóa ra Bát hồn nơi cõi Thiêng liêng vô hình gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn và cho đầu kiếp xuống các địa cầu tạo nên vạn vật chúng sinh. 

Vì vậy, Diêu Trì Kim Mẫu là đấng nắm cơ sanh hóa, thay mặt Chí Tôn đứng ra thâu cả Thập Thiên can đem hiệp với Thập nhị Địa chi mà tạo nên muôn vật. Như thế, con người nơi cõi phàm trần ngoài hai Đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa. Nói chung, toàn bộ chúng sinh trong Càn khôn vũ trụ hay toàn cả Vạn linh đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Diêu Trì Kim Mẫu, dầu cho là các vị Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Lão Tử, Khổng Tử, Chúa Jésus… tất cả đều là con cái của Ngọc Hoàng Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu.
Vì là Mẹ sanh của muôn vật, là bậc rất mực tôn nghiêm và cao tột, có tình thương bao la, không cùng không tận đối với vạn vật nên còn có danh xưng là Vô Cực Từ Tôn. Tóm lại, trong danh xưng tuy phân biệt là Cha, là Mẹ, nhưng trong ý nghĩa siêu việt của chân lý thì Cha và Mẹ là một, hay Thái Cực và Vô Cực cũng là một, một bản thể chân như tự tánh, chí cực chí tôn, tự hữu và hằng hữu.

Trong bài Phật Mẫu Tâm Kinh có đoạn:

“Từ hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ
Cho thiếp quyền quản khí hư vô
Lấy âm quang tạo khách tăng đồ…”

Và: 

“Chưa ai vào đến cõi trần này

Chẳng thọ lấy chơn thần tay thiếp

Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp

Rồi dắt dìu cho hiệp với Cha”.


Từ đây, có thể thấy vai trò và công đức của Diêu Trì Kim Mẫu qua sự tôn kính trong ý thức và đức tin của người tín đồ Cao Đài. Chính vì vậy, đại lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – Hội yến Bàn Đào hằng năm được xem là ngày lễ trọng bậc nhất của cộng đồng tín đồ Đạo Cao Đài.

Có nhiều cơ sở cho thấy sự bình đẳng của nữ giới trong Đạo Cao Đài không chỉ trong hệ thống tổ chức và cả trong đời sống tôn giáo, có thể nhận ra các điểm quan trọng sau: 

+ Mỗi phái đều có những phẩm trật tương đương từ hàng thấp nhất ở cơ sở địa phương đến hàng cao nhất ở giáo hội Trung ương. 

+ Đồng phẩm thì đồng quyền nam phái chứ không phải thấp hơn. 

+ Số lượng chức sắc nam phái thì giới hạn, còn nữ phái thì không. 

+ Được tham dự các buổi hạnh đường chung với nam phái, được bồi dưỡng nâng cao để trở thành người hướng đạo hoặc thuyết đạo như nam phái.

+ Trong các đàn cơ, các vị giáng đàn thường có cách xưng hô: “Thầy mừng các con nam nữ..” hay “Chào chư thiên mạng, nam nữ đàn tiền…” tức đây không phải là nơi chỉ dành dạy riêng cho nam phái.

+ Tòa thánh và thánh sở địa phương đều có cổng, cửa, khu vực dành cho nam phái và nữ phái riêng biệt.

+ Khi vào chánh điện hành lễ thường vào một lượt từ hai cửa, nam nữ đồng phẩm quỳ ngang hàng nhau theo hai bên nam nữ.

+ Ở Tòa Thánh có ngôi chánh điện tôn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn có ngôi Diêu Trì Bửu Điện - nơi tôn thờ Diêu Trì Kim Mẫu và các vị Thánh mẫu, điều này cho thấy có sự bình đẳng về phương diện tâm linh. Ngoài ra, còn có các nơi như Nữ Đầu sư Đường, Tòa hành đạo Nữ Phái, Định Ngươn Đường Nữ phái là các trung tâm sinh hoạt đạo sự quan trọng của phái nữ trong nền Đạo Cao Đài. 

+ Trong phạm vi sinh hoạt xã hội, cũng như trong hành chánh đạo, phái nữ được đặt ngang hàng với nam giới, cũng có quyền ứng cử vào các vị trí như Đại biểu nhơn sanh ở cấp cơ sở, hay ủy viên Ban thường trực của Hội thánh và thành viên Thượng Hội. Nữ phái có quyền tự do tham gia bầu cử, ứng cử vào các cơ quan hành chánh đạo, cùng góp ý kiến và kiểm soát các sinh hoạt của Đạo từ Trung ương đến địa phương. 

+ Trong các nghi lễ vòng đời cũng không có sự khác biệt giữa nam nữ trong cùng phẩm cấp.

+ Trong cửa đạo, Nữ phái cũng chứng đắc được các ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật như Nam phái. 

+ Nhận thức của nhiều người thường bị ảnh hưởng bởi quan niệm “nam thanh nữ trược”, bản thân của nữ giới càng bị ám ảnh bởi việc thân thể không được sạch sẽ nên cũng trở thành một rào cản khi đến với tôn giáo. Sự cấm kỵ đối với phụ nữ đến các nơi thờ tự tín ngưỡng lâu nay là chuyện thường gặp. Tuy nhiên, có một đoạn Thánh giáo sau đã thay đổi quan niệm trên trong tín đồ của Đạo Cao Đài:

“Nhục thể phàm phu trược đã đành

Chẳng vì nhiệt huyết kỵ anh linh

Tương thân nam nữ hoa trao bướm

Hòa ái âm dương thủy nhập bình

Tạo hóa là tay xây đảnh trí

Chúng sanh như mặt chạm khuôn hình

Thợ Trời nào nỡ chê đồ tạo

Xấu tốt sạch dơ bởi miệng mình”.

[Thánh giáo Bát Nương]


Vì vậy, quan niệm sạch sẽ về thể chất và linh hồn đã được thể hiện khá rõ. Điều đặc biệt hơn ở Đạo Cao Đài là trong cơ quan Hiệp Thiên Đài cũng có sự hiện diện của nữ giới đảm nhận nhiệm vụ đồng tử hoặc các chức sắc giám luật làm nhiệm vụ hướng đạo như nam giới. Đồng thời, về phương diện tu tịnh (nội giáo tâm truyền), còn có cả Định Ngươn Đường dành riêng cho Nữ phái. 

Nhìn từ góc độ tiến bộ xã hội thì đây là một cuộc cách mạng lớn, trong lúc xã hội phương Đông còn chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo với quan niệm cứng nhắc về người phụ nữ như: “khuê môn bất xuất” hay “chồng chúa vợ tôi”, thì giáo lý của Đạo Cao Đài đã có bước giải phóng phụ nữ trước thời đại, nâng người phụ nữ lên một tầm vóc mới. 

Từ đây có thể nhận thấy, yếu tố phân biệt giới đã có sự chuyển biến rõ rệt theo xu hướng bình đẳng giữa nam nữ, đây chính là nét đặc trưng của thể chế Đạo Cao Đài nói chung, vị trí của người phụ nữ được khẳng định nhiều hơn trong xã hội và trong cả đời sống tôn giáo. Cho nên có thể thấy tư tưởng của Đạo Cao Đài là tư tưởng bản nguyên của con người, hoàn toàn thích ứng với tinh thần đổi mới và hội nhập hiện nay của dân tộc và thế giới.


TÌM HIỂU NGŨ NGUYỆN TRONG CÚNG TỨ THỜI

TÌM HIỂU NGŨ NGUYỆN TRONG CÚNG TỨ THỜI

Vậy chúng ta xem coi ta nguyện vậy với ý nghĩa là làm sao? Xin mời quý vị hảy để tâm theo dõi.

Đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn sáng lập tại Nam Bộ nước Việt Nam, đại đa số tín đồ là nông dân, có đức tin tín ngưỡng chân thành với thiêng liêng và lòng thiết tha yêu nước, yêu dân tộc, yêu chuộng hòa bình do bản chất hiếu hòa, vốn có của người Việt, Nam-Bộ, được ơn trên truyền dạy Tân Tôn giáo bảo trì nền văn hóa cổ truyền dân tộc qua nghi lễ tôn giáo, để thể hiện thật rõ nét tôn giáo dân tộc. Hay nói cách khác. Đạo Cao Đài là một Tôn giáo phát sinh từ nền văn hóa, đặc thù khu vực đồng bằng Nam bộ, hoặc nền văn hóa đặc thù khu vực hình thành Đạo Cao Đài, bởi vì thời gian xuất hiện Đạo Cao Đài cũng là thời gian định hình xã hội Nam-Bộ.

Quan điểm bảo trì văn hóa cổ truyền dân tộc đặc thù khu vực của Đạo Cao Đài theo tinh thần cởi mở của người Việt Nam ở Nam-Bộ, sẳn sàng đón nhận tinh hoa tốt đẹp từ bốn phương, từ tinh thần đó. Ơn trên nêu tôn chỉ “ Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi hiệp nhứt”, xóa định kiến, xóa kỳ thị, hòa hợp tín ngưỡng, hòa đồng nhơn loại, mang tính đại đoàn kết xã hội loài người, không phải vay mượn hay chấp vá như người ta từng xuyên tạc.

Hôm nay chúng ta hảy xem những việc làm thực tế mà hằng ngày chư môn đệ của Chí Tôn nguyện ước, cần thực hiện thật tốt trong đời sống với đạo và xã hội.

Người theo đạo, chỉ tất yếu hướng thiện và hướng thượng, bước đầu của đời tu hành sửa mình trở thành người tốt, có ích lợi cho xã hội phát huy đạo đức tôn giáo trước xã hội nhân quần, làm cho nền đạo ngày càng sáng tỏ, có tốt đạo mới đẹp đời, đạo đức tốt, thì đời sống đẹp, hay là tôn giáo tốt, thì xã hội đẹp.

Muốn làm được những tốt đẹp như trên đã nói, trước hết chúng ta thực hiện những điều ta hứa trước mặt Chí Tôn mỗi ngày bốn lược trong khi niệm hương, mở đề là câu kinh:

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”, Bao trùm cả giáo lý, gói gọn tư tưởng đạo đức vào bảy chữ của câu kinh, cái gốc của đạo là sự thành kính, thành thật, tin tưởng và hòa hợp, thành tâm thật ý trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt dẫn độ quần sinh và trong đời sống tu hành sẽ đi đến thành công, đắc quả. Có thành thật, thành kính với lòng trong sáng không gợn chút tà niệm nhỏ nhen, mới phát xuất được tư tưởng chân chính, có đức tin thiêng liêng, niềm tin nhân loại , tín nhiệm lẫn nhau phát xuất tình thương yêu, hòa thuận, đoàn kết là thuận đạo, ngược lại là trái đạo.

Cũng từ câu kinh trên, các đấng thiêng liêng từng dạy chúng ta:
Hiệp nhứt tư tưởng thuần túy đạo đức”.
Hiệp nhứt tư tưởng không phải buộc tất cả xoay về một ý nghĩa giống nhau, không được nghĩ khác. Hiệp nhứt những ý thức trưởng thành, những tương đồng để linh động hóa tiềm năng vô cùng của con người vốn sâu thẳm làm nét kẻ lưởi cưa theo đúng ni đúng mực… Hiệp nhứt tư tưởng có ý nghĩa rất rộng là cùng đi trên tiêu chuẩn giống nhau trên chủ thuyết.

Thuần túy đạo đức” của Đấng Chí Tôn đã dạy:
Thuần túy đạo đức được mô tả trong hình dạng trung hòa không thiêng lệch, thể theo lòng trời mà phát tiết ra hành động. Thuần túy đạo đức không phải tách rời mọi hoạt động xã hội, mà là hòa nhập vào xã hội để phát huy giá trị đạo đức của tôn giáo trong sinh hoạt xã hội thường ngày.

Hiệp nhứt tư tưởng để tiến đến thống nhứt lý tưởng thực hành đạo đức thuần túy, bước đầu ta cố gắng thực hiện những câu khấn nguyện của ta với Đấng Chí Tôn mỗi ngày bốn lược sau khi niệm kinh:
Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai”
Lời ký hứa để thực hành cụ thể, không đợi quyền năng vô hình làm thay.
Bởi đạo lý, hư vô bàn bạc trong không gian và tất cả đều hấp thụ sự sinh tồn bởi đạo. Cái đạo vĩ đại vô cùng, vô tận chúng ta không thể hiểu hết được.

Lời nguyện Đại Đạo hoằng khai của chúng ta xuất phát từ nơi chí thành, chí kỉnh tận nơi đái lòng tín ngưỡng. Muốn đem Đại Đạo đưa ra cho thiên hạ tất phải qua trung gian thiên hạ tức là con người. Đó là những thiên mạng có trách nhiệm thay Thầy hành đạo, trách nhiệm đó không chỉ riêng cho hàng thiên phong, chức sắc mà là việc chung của cả chư môn đệ Chí Tôn, bất cứ ai có tâm thành vì đạo, có nhận thức đạt được lý đạo đều là nhân tố hoằng khai Đại Đạo bất cứ hình thức nào.

Hoằng khai Đại Đạo không chỉ tuyên truyền rao giảng, mà tự bản thân người thiên phong tín hữu, toát lên được những cơ bản đạo đức, tôn giáo, thì xã hội mới thấy được chân giá trị của nền đạo. Người xưa có bảo:

Ngôn giáo bất như thân giáo
Thật chí lý, ta rao giảng thật nhiều về đạo, mà bản thân ta chưa có đạo, thì không có hiệu quả, mà cụ thể hơn hết là bản thân mình trong mọi hoạt động nên làm đạo đức chơn chánh, làm tiền đề cho đạo đức tôn giáo.

Đạo đức là đầu mối sinh hoạt xã hội, đối với bản thân không hủy hoại tinh thần hay thể xác, vì nó là tinh anh của tạo hóa ban cho, đối với gia đình phải thật sự xứng đáng với vị trí của mình, Nếu là ông bà, cha mẹ thì phải gương mẫu. Nếu là con cháu thì phải hiếu thảo. Nếu là chồng, vợ thì phải thủy chung. Nếu là người công dân thì phải trung thành với Tổ Quốc của mình. Vì đó là đơn vị của xã hội, đơn vị của tôn giáo. Đối với xã hội , lấy nhân, trung, nghĩa xữ thế tiếp vật. Người sống có đạo đức không có những oán thù trong cuộc sống, không kỳ thị mà luôn có tình thương, không cầu phước, mà luôn thực hành ban phước… Từ đó, mới đem chân truyền pháp nhiệm của Chí Tôn đưa vào cuộc sống, chúng sinh tiếp nhận để trở lại lẽ sống tự nhiên của nhân bản, của chơn như.

Thiên nhiên là đạo.
Dưỡng dục quần sanh thống ngự vạn vật”. Nhựt nguyệt âm dương, mưa nắng điều hòa để cho sự sống trên mặt đất quân bình, cái đạo của Trời đất rất êm đềm, lặng lẽ mà rất huyền diệu nhiệm mầu, chúng ta nguyện hoằng khai Đại Đạo tất phải hành động theo đúng cái đạo của Trời đất, thể hiện Công bình, Từ bi, Bác ái trong êm đềm lặng lẽ mà rất ích lợi cho nhơn loại xã hội. Hoằng khai không phải quảng cáo phô trương, hoặc làm phép lạ để kích thích tò mò, mà phải đưa lẽ thật đạo lý siêu nhiên, tự nhiên và đạo đức tôn giáo đi vào đời sống thật sự.

Nhì Nguyện Phổ Độ Chúng Sanh”.
Nói chung tất cả mọi vật có sự sống tại mặt đất từ tế vi chí đến bậc cao nhất là con người. Phổ độ chúng sinh thì phải tận dụng quyền năng nhân bản của mình đối với mọi vật, mọi người, không tàn hại bất cứ vật gì, mà cần phải ban bố tình thương theo đức háo sanh của Thượng Đế, phổ độ không phải rù quến, bắt ép, hoặc tranh thủ giành giựt cho được nhiều người theo tôn giáo mình cho thật đông, cũng không phải thu mình trong vỏ ốc chờ đợi huyền linh thiêng liêng. Mà cần phải phát huy nội lực, phát huy đạo đức, làm cho chúng sinh cảm nhận được chân giá trị của đạo đức rất chân chính của tôn giáo, qua sinh hoạt bản thân mình, được xã hội nhìn vào đánh giá cao, từ đó chúng sinh mới có tự giác về với đạo lần đưa xã hội đến chân, thiện, mỹ nếp sống của chúng sinh sẽ được đạo đức văn hóa, muốn phổ độ chúng sinh mà chính bản thân ta giữ chưa tròn pháp giới còn tham, sân, si, tật đố, đạo đức của mình thể hiện chưa đầy đủ, chưa thật sự chân chính, giử được niềm hòa thuận thương yêu nội bộ chưa tốt thì vấn đề phổ độ chúng sinh không hiệu quả. Trái lại còn làm cản ngại đức tin, niềm tin của chúng sinh. Có tác hại lớn lao về giá trị tôn giáo, vì chúng sinh sẽ đánh giá thấp về cái đạo.

Tam Nguyện Xá Tội Đệ Tử”.
Xin xá tội đệ tử trong đó có mình. Nhưng khi xưng tội phải biết mình đã phạm tội gì, sau khi xưng tội, phải chừa tội.
Thường thì trong cái ích kỷ hẹp hòi của chúng ta luôn muốn được ơn trên xá tội cho mình, nhưng mình không bao giờ tha thứ lỗi lầm của người khác, nếu bản thân mình muốn được xá tội, thì hảy tha thứ tất cả những lỗi lầm của người khác bất cứ là ai đem đến cho mình, để tâm hồn của mình được nhẹ nhàng thư thái.

Các giáo chủ đời xưa hằng dạy:
“Từ bi hỷ xã cho chúng sinh” hay là “Nhẫn, nhẫn, nhẫn, oan gia trái chủ tùng thử tận, Nhiêu, nhiêu, nhiêu thiên tai vạn họa nhất đề tiêu” Hoặc: “Nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì cha của các ngươi trên trời, cũng sẽ tha thứ cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì cha các ngươi cũng không tha lỗi cho các ngươi”.
Thiên thượng chí công không vì đa lễ cầu xin mà được phúc, không vì thiếu lễ, thiếu cầu xin mà buộc tội, tội lỗi do chính mình gây nên ràng buộc cho mình, cần phải tự mình mở dây ràng buộc, bằng cách xá tội cho anh em mình, mở rộng tình thương, nâng đỡ cho chúng sinh trên đường tấn hóa đó là các đức hạnh ban đầu của môn đệ Chí Tôn. Xin xá tội cho mình mà khư khư buộc tội người khác là ích kỷ hẹp hòi, trái lời cầu nguyện, chưa đủ tư cách là môn đệ đức giáo chủ Đạo Cao Đài.

“ Tứ nguyện thiên hạ thái bình”.
Nội dung của ba câu trên gần như giải đáp câu nầy khá rõ. Muốn cho thiên hạ thái bình thì bản tâm mỗi con người có thái bình trước. Trong khi bản tâm của ta còn chứa nhiều thị dục, tham lam, si mê, ái ố, chấp ngã…phát xuất từ hành động xấu cho xã hội thì lời nguyện không đạt.

Chơn như bất động, tự lòng phải thanh tịnh bình thản trước mọi sự việc không cố chấp, không vương vấn hoàn cảnh bởi nhân tâm quanh mình. Thái bình được xuất hiện từ nội tâm của mỗi con người và nhân rộng ra quãng đại nhân sinh tác động vào xã hội, mỗi người có được tâm định bình tỉnh, thì thái bình sẽ đến. Thiên hạ thái bình không dễ có, bởi nhân tâm xã hội. Tuy nhiên là môn đệ Chí Tôn, phát tâm cầu nguyện thiên hạ thái bình, thì tự nơi mình, phải thật sự có thái bình trong tâm linh bằng sự chí thành, chí kỉnh với thiêng liêng và xã hội.

“ Ngũ nguyện Tịnh Thất an ninh
Ở đây chúng ta không nói ngũ nguyện Đại Đạo qui nguyên, vì nó có nội dung và ý nghĩa khác.
Câu nguyện nầy mới nghe qua thì ai cũng sẽ ngạc nhiên, tại sao Đạo Cao Đài chủ trương đại đồng nhơn loại, mà chỉ cầu nguyện cho một Thánh Thất, Thánh Tịnh của riêng mình?

Thực chất đây là đạo lý !. Tam đài Thánh Tịnh là thánh thể Chí Tôn tượng trưng kiền khôn vũ trụ, guồng máy Đại Đạo, thánh thể siêu nhiên đó, phải được bình yên, thì kiền khôn mới an tịnh. Kiền khôn an tịnh thì vạn loại hòa bình, Kiền khôn được an tịnh thì vạn loại không thù nghịch lẫn nhau, không thù nghịch lẫn nhau thì mới giữ bền cơ sanh hóa. Kiền khôn được an tịnh mới giữ được bửu vật của trời đất và của người. Kiền khôn an tịnh nhơn loại mới bình yên, phong hòa vũ thuận, cuộc sống của nhơn loại mới có an cư lạc nghiệp. Cụ thể hơn, một đơn vị của Đại Đạo bị mất an ninh, nội bộ sẽ bị ảnh hưởng lớn cho nền đạo. Nếu một bộ phận trong cơ thể bị đau thì toàn thân không thể khỏe mạnh.

Do vậy, tình thương yêu đoàn kết, đức độ lượng khoan dung và tha thứ lỗi lầm cho nhau là đầu mối cho an ninh Tịnh Thất. Nếu chưa thật sự đoàn kết thương yêu, tịnh thất còn nhiều rắt rối, nội bộ do chấp ngã tranh đấu, giận hờn nhau, chưa hòa thuận nhau thì tịnh thất chưa an ninh, như vậy bốn câu nguyện bên trên hoàn toàn vô nghĩa, xem như là lừa dối Chí Tôn, miệng thì luôn khấn nguyện, nhưng thức tế trong lòng mỗi người còn đố kỵ lẫn nhau, như vậy sẽ trở thành con vẹt học nói, mà chính nó cũng không biết nói gì, trái lại còn tác hại to lớn đối với công cuộc mở đạo độ đời của Chí Tôn, vì nền đạo bị chúng sinh phê phán, xem nhẹ, đánh giá thấp. cái Tịnh thất đó và luôn cả cái hệ thống tổ chức đó.
“ Tạo chúc cầu minh, đọc kinh cầu lý”.

Chúng ta tụng kinh không chỉ kể lại thành tích đạo đức của các sư tổ để kính phục, cũng không phải tụng đọc để các đấng chấm công, hoặc đọc nhiều lần, nhiều ngày để đạt thành chánh quả. Hay là tụng đọc cho các đấng nghe. Cái sâu xa trong tụng kinh là tìm hiểu các đấng dạy gì, để ta làm theo lời dạy đó, công phu là định tỉnh lắng lòng, kiểm điểm sinh hoạt của mình, những điều đúng, điều sai, để sửa chửa.

Kinh Cao Đài ơn trên dùng chữ Việt, tiếng Việt đặc biệt là ngôn ngữ của cư dân đồng bằng Nam Bộ, phổ vào thơ văn diệu lý dễ nghe, dễ hiểu, khỏi chờ đợi thích nghĩa. Cho dù thành phần nào trong xã hội khi nghe và đọc cũng hiểu lời kinh tiếng kệ đó ý nghĩa ra làm sao và khuyên chúng ta phải làm gì. “ Cái đạo chẳng phải nơi lời nói suông, mà ở chỗ kết quả sự thật mình làm, không phải nơi câu kinh tiếng kệ. Mà buộc ở hành vi người giữ đạo, không phải ở sự giảng dạy, mà ở sự thực hành. Cái hay của Đạo, không phải nơi yếu lý. Mà ở kết quả cuộc giáo truyền !.
 Mỗi ngày bốn lược chúng ta quỳ trước Đức giáo chủ vô vi niệm kinh, đầu đề là:

“ Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp” .cuối đề là: “ Ngũ nguyện tịnh thất an ninh”.
Là những ký hứa trong chân thành tín ngưỡng, thực hiện tốt được những điều ký hứa đó, thì đã hoàn thành một phần lớn sứ mạng của mình, đã trở thành Giáo sĩ, truyền đạo hay là sứ giả thái bình nhơn loại, khỏi phải đi tìm cái gì đó xa xôi, cao vợi và cũng không chờ đợi phép mầu nào từ vô vi ban đến, hoặc tụng đọc rồi ngồi đó trông chờ các đấng thiêng liêng sẽ làm thay cho mình? không phải là như vậy.

Thiên kinh vạn điển bất quá hồi thiệt” được gợi lại trong câu kinh “ Làm người nhơn nghĩa xử tròn, muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa”.
Cuối bài, chúng ta sẽ nghe lại một đoạn Thánh ngôn của Đức Tôn Sư Đông Phương Chưởng Quản dạy:
Chư hiền đệ, hiền muội ý niệm như vậy thì tư tưởng mỗi người đều đồng nhứt theo đó nếu sai một ly sẽ đi một dặm.
Đường lối hướng về lý tưởng hay mục đích của Đại Đạo là đem đạo cứu đời lập lại đời thuần lương thánh đức, nền tảng cốt yếu là như vậy, chớ thật sự không ngoài câu: “ Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ” hoặc “ Nhất trí bách lự”.
Nghĩa là: Con người cùng về một điểm giống nhau, bằng những đường lối khác nhau và cùng đạt tới sự hiểu biết duy nhứt, bằng những ý nghĩ suy gẩm khác nhau.
Bần đạo nói khác nhau đây là những đường lối tạm mượn chớ không phải khác nhau về tư tưởng, tôn chỉ nêu trên”

                             “ Đâu là quy hiệp vạn tôn môn,
                             Về một ngôi nhà của Chí Tôn,
                             Đế đạo đời đây không nhạc sắc,
                             Cho người kia chẳng lạc linh hồn./.

                                             gh


                Ý NGHĨA NGŨ NGUYỆN VĂN BÀI:

                   Hằng ngày cúng tụng cầu ngũ nguyện,
                   Phải hiểu rành nghĩa hiện nghĩa đen;
                             Gìn lòng hướng thượng cho quen,
          Thực hành công quả, nhúm nhen công trình.
                   Lời mình hứa, lời mình khẩn nguyện,
                   Thì cố công thực hiện cho nên;
                             Chớ đừng ỷ lại ơn trên,
          Mà mình chẳng cố công lên giúp đời.
                   Nhứt nguyện cầu đạo trời khai sáng,
                   Thì bản thân phải ráng thực hành;
                             Nhơn năng hướng đạo độ sanh,
          Vì đời bao quản nhọc nhành đắng cay.
                   Thượng Đế chọn đất nầy mở đạo,
                   Việc phổ thông truyền giáo do người;
                             Tược cành có được tốt tươi,
          Chúng sanh mới gội ơn trời hiếu sinh.
                   Nhì Nguyện phổ đạo huỳnh khắp cả,
                   Cho nhơn sanh cải hóa hồi đầu;
                             Dòng đời nào ngại cạn sâu,
          Gian nan há ngại dãi dầu nắng mưa.
                   Khi quần chúng cải chừa tội lỗi,
                   Thì cán cân xã hội sẽ nghiêng;
                             Người dân bỏ dữ làm hiền,
          Nhà yên nước thạnh miên miên thái hòa.
                   Tam nguyện mở hải hà chi đức,
                   Thương chúng sanh nơi vực trầm luân;
                             Vô minh nên vướng nghiệp trần,
          Gây nhân tạo quả xoay vần chưa ra.
                   Càng chuyển kiếp càng sa đọa mãi,
                   Càng luân hồi càng lại vô minh;
                             Dễ gây bao nỗi tội tình,
          Nên tha thứ họ đồng sinh dắt dìu.
                   Tự xét còn ít nhiều tội lỗi,
                   Mà răng lòng sám hối chẳng lờn;
                             Xét mình thông cảm tha nhơn,
          Khiến người gần gũi khuyên lơn tu hành.
                   Hằng cầu nguyện cao xanh tha tội,
                   Nỡ lòng nào chấp lỗi đồng môn;
                             Sắp mình cầu khẩn Chí Tôn,
          Mà lòng câu chấp còn ơn huệ gì.
                   Tứ Nguyện đấng Từ bi ban phước,
                   Cho chúng sanh hưởng được thái bình;
                             Thì lòng ta phải tịnh thanh,
          Chuyển đi thần lực an ninh cho đời.
                   Kế đó phải đem lời đạo đức,
                   Khuyên người tu chơn thật huệ từ;
                             Bên trong đức hạnh có dư,
          Bên ngoài mới có an cư thái bình.
                   Thiên hạ là chúng sanh ngoại cảnh,
                   Cũng là trong tâm hạnh của mình;
                             Đó là sáu dục bảy tình,
          Chế ngăn cho được thái bình dài lâu.
                   Ngũ nguyện là vọng cầu Thánh Thất,
                   Là ngôi chùa vật chất hữu hình;
                             Làm chi mà mất an ninh,
          Hiểu như thế đó vô tình lắm ru?
                   Nếu đồng đạo không tu không tập,
                   Tánh tình không thụ hấp nghĩa nhân;
                             Lòng hằng si dục tham sân,
          Nhỏ nhen tật đố bâng khuâng dài dài.
                   Thì dầu nguyện hết ngày mãn tháng.
                   Chỉ luống lòng nào đặng an ninh;
                             Mà lo tu sửa tánh tình,
          Khoan dung hòa ái giữ gìn cho nhau.
                   Mạnh giúp yếu, kẻ giàu giúp khó,
                   Trí giúp ngu, lớn nhỏ dìu nhau;
                             Thì dầu chẳng nhọc nguyện cầu,
          An ninh tự nó chực chầu đến ngay.
                   Thánh Tịnh gồm ba đài cả thảy,
                   Là Cửu trùng, Bát quái, Hiệp thiên,
                             Tương quan thân thể tam điền,
          Biết tu dụng nó làm Tiên siêu phàm.
                   Tam đài cũng là tam bửu đó,
                   Trời, Đất, Người nào có khác chi;
                             Trời thời Nhựt, Nguyệt, Tinh vi,
          Đất thì Thủy, Hỏa, Phong phi bảo tồn.
                   Người Tinh, Khí, Thần hồn bền chặt,
                   Do đó mà thành Phật, đắc Tiên;
                             Học tu phải hiểu nghĩa huyền,
          Mới mong đạt lý siêu nhiên đại thừa.
                   Đây ngũ nguyện nhặt thưa phân giải,
                   Xin ai đừng hiểu trái cạn nông;
                             Rồi theo sắc tướng ngoài vòng,
          Để cho ánh đạo trong lòng mờ lu.
                   Rồi phí uổng công phu một kiếp,
                   Lẩn quẩn trong tứ hiệp giả không;
                             Ra vào trong bánh xe luân,
          Nhà xưa cảnh cũ muôn phần xa xăm.
                   Vậy tu phải lấy tâm làm gốc,
                   Tâm cùng trời là một cội nguồn;
                             Nội tâm tự quản linh thông,
          Thiên nhơn hiệp nhứt huyền đồng là đây.
                   Ngược lại nếu những ai vào đạo,
                   Mà chỉ lo cơm áo gạo tiền;
                             Chạy theo lợi lộc uy quyền,
          Ẩn trong lớp áo tu hiền khéo khôn.
                   Đó là lốt bàn môn tả đạo,
                   Đó là khoa tà giáo hiển danh;
                             Nội tâm chẳng luyện chẳng hành,
          Để tham sân dục biến sang nẩy mầm.
                   Dầu có nguyện ngàn năm mãn kiếp,
                   Thì cũng không giải nghiệp được đâu;
                             Huống chi chỉ có năm câu,

          Phóng tâm loạn tưởng vọng cầu mênh mông./.