Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

NỮ GIỚI TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẠO CAO ĐÀI

Bài tham luận của Hội thánh Tiên thiên tại Hội thảo khoa học về nữ giới Cao Đài

NỮ GIỚI TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẠO CAO ĐÀI

1. Các nguyên tắc tổ chức Đạo Cao Đài

- Tam đài phân lập


Cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài gồm ba cơ quan chính gọi là Tam Đài. Ba cơ quan này tượng trưng cho ba yếu tố của con người: Bát Quái Đài đại diện phần vô vi, tượng trưng cho linh hồn; Cửu Trùng Đài đại diện phần đời, tượng trưng phần xác; Hiệp Thiên Đài là phần bán hữu hình thuộc về nửa đời nửa đạo, tượng trưng cho Chơn thần. Tam Đài là ba cơ quan có quyền hành cao nhất trong đạo đó.

Bát Quái Đài: Là nơi thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần. Các vị này đại diện cầm quyền ở cõi vô hình mà tín đồ tin tưởng và hướng đến để chiêm bái, cầu nguyện. Thế giới thiêng liêng trong Đạo Cao Đài được chia thành nhiều thứ bậc, cầm quyền chủ quản để siêu rỗi. 

Như vậy, cơ cấu tổ chức tại Bát Quái Đài gồm những thành phần thuộc về Thiêng Liêng, Đây là cơ quan cao nhất trong Đạo.

Cửu Trùng Đài là cơ quan hữu hình, đây là cơ quan có trách nhiệm dìu dắt con người vào cửa đạo để được về với Thượng Đế. Cửu Trùng Đài chia làm hai phái: Nam phái và nữ phái, chia làm 9 bậc gọi là Cửu phẩm. Đứng đầu là Giáo tông, sau đến Chưởng pháp, Đầu Sư, Phối Sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, chức việc và tín đồ. 

Hiệp Thiên Đài: là cơ quan có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ luật lệ trong đạo. Ngoài ra đây còn là cơ quan giữ quyền bảo vệ chân truyền của Đạo, là cái gạch nối giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài cho Trời hiệp với người. Đứng đầu Hiệp Thiên Đài là Hộ pháp và các phẫm vị khác.

- Lưỡng phái bình đẳng

Trong cơ cấu tổ chức của Hội Thánh Cao Đài chia làm hai phái: Nam phái và Nữ phái. 

Đầu Sư nam lãnh đạo Nam phái, Đầu Sư nữ lãnh đạo Nữ phái, gọi chung là Cửu Trùng Đài lưỡng phái, được đặt ngang nhau về phẩm vị chức sắc và nhiệm vụ chức trách. 

Đối với Nữ phái thì có 7 phẩm bậc từ tín đồ lên đến Đầu sư có trách nhiệm và quyền hạn đặt ngang hàng với Nam phái. 

- Dân chủ tập trung

Tổ chức của Hội thánh Cao Đài có hai cấp: Cơ quan giáo quyền Trung ương và họ đạo cơ sở.

+ Cơ quan giáo quyền Trung ương: 

Thượng hội: Thành phần gồm có các phẩm như Thượng phẩm, Thượng sanh, Tam Bảo Thời Quân (Bảo Đạo, Bảo Pháp, Bảo Thế) Hiệp Thiên Đài và phẩm Giáo Tông, 3 Chưởng pháp, 3 Đầu sư nam, 1 Đầu sư nữ Cửu Trùng Đài. Thượng hội là cơ quan cao nhất của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nhiệm vụ như: Chủ trì các sinh hoạt tín ngưỡng và giữ gìn chân truyền Đạo pháp của Đức Chí Tôn.

Hội thánh: Thành phần gồm các chức sắc đang hành đạo từ Sĩ tải, Truyền trạng, Giám đạo, Thập nhị Bảo quân, Thập nhị Thời quân của Hiệp Thiên Đài và Giáo hữu, Giáo sư, Phối sư của Cửu Trùng Đài lưỡng phái. Hội thánh là cơ quan lãnh đạo trong hành chính đạo tờ Hội Thánh đến Họ đạo cơ sở..

- Thống nhất hành đạo

Việc hành đạo của Đạo Cao Đài được thống nhất qua 3 hội.

Hội nghị Nhơn Sanh: Là hội nghị mà thành phần tham dự là các Đại biểu Nhơn sanh, nhằm phản ánh nguyện vọng của nhơn sanh trong quá trình hành đạo, từ đó đề xuất kiến nghị lên Hội thánh, đồng thời giám sát các hoạt động của Hội thánh. Hội nghị Hội Thánh: Là hội nghị do Hội Thánh triệu tập, nhằm xét kiến nghị của Hội Nghị Nhơn sanh, lập thành đường lối kế hoạch hành đạo để trình lên Thượng Hội phê duyệt.

Hội nghị Thượng Hội: Là hội nghị của thành phần lãnh đạo cao nhất trong toàn nền Đạo, do các chức sắc Thượng hội triệu tập và chủ trì có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch hành đạo 5 năm và chương trình hành đạo 1 năm của Hội Thánh, đồng thời đưa ra các chủ trương mang tính trọng yếu của Đạo.

Tóm lại, trên nền tảng chung về cơ cấu như Tam quyền, lưỡng đài, ba hội, tổ chức của Đạo Cao Đài được hình thành một cách quy củ, thể hiện phần nào mong muốn xây dựng một thể chế dân chủ, bình đẳng nam nữ và thể hiện sự vững mạnh của Đạo Cao Đài nhờ vào cơ cấu tổ chức.


2. Vai trò nữ giới trong tổ chức Đạo Cao Đài 

Nét đặc trưng quan trọng trong lịch sử tôn giáo xưa nay là Đạo Cao Đài rất coi trọng sự bình đẳng nam nữ, nên đã sớm chủ trương nam nữ bình quyền trong hệ thống tổ chức của giáo hội và cả đời sống tôn giáo hằng ngày. Mặc dù được ra đời tại một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến mà lại chủ trương nam nữ bình đẳng, đây là yếu tố đi trước thời cuộc và xã hội. Trong khi phụ nữ Hồi giáo không được đến nhà thờ, phụ nữ Thiên Chúa giáo không được làm Linh mục và trong các tôn giáo bản địa cũng ra đời tại Nam Bộ thì người phụ nữ không có chức phận gì trong tổ chức giáo hội thì trong cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài, vai trò, vị trí của nữ giới lại được xem trọng như nam giới. 

Trong Pháp Chánh Truyền có ghi: “Hễ bao nhiêu nam tức cũng bấy nhiêu nữ, nam nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ phái buổi lập Pháp Chánh Truyền”. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: “Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ cả nam và nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Các đấng nữ Tiên, nữ Phật còn lớn quyền thế hơn cả nam nhiều”, hay Nam nữ vốn đồng quyền…, Giáo hữu Nam phái cũng chịu dưới quyền Giáo sư Nữ phái”.

Đạo Cao Đài chấp nhận nữ giới trong hệ thống tổ chức tôn giáo của mình. Nữ giới giữ vai trò, phẩm vị gần như ngang bằng với nam giới. Đặc biệt trong cơ quan Cửu Trùng Đài, nam giới giữ “Cửu phẩm thần tiên”, thì nữ giới cũng chiếm đến “Thất phẩm thần tiên”. Nữ phái giữ chức vụ như nam phái, cao nhất là Đầu sư. Chỉ riêng phẩm Chưởng pháp và Giáo tông nữ giới không được giữ vì theo giáo lý Cao Đài thì hai phẩm này tượng trưng cho Dương vị, thì phải do nam phái nắm quyền chưởng quản, bởi theo lý đạo: Dương phải vượt Âm thì đạo mới phát triển:

“Thiên địa hữu âm dương, dương thạnh tắc sanh, âm thạnh tắc tử, cả Càn Khôn Thế Giới nhờ dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi dương quang, ngày nào mà dương quang đã tuyệt, âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giới phải chịu trong hắc ám mà bị tiêu diệt. Nam ấy dương, nữ ấy âm, nếu Thầy cho nữ phái cầm quyền Giáo tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho âm thắng dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám muội.

Chưởng pháp cũng là Giáo tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ pháp nơi Cửu Trùng Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo tông thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ pháp con. Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên cơ đã định, Thầy chỉ dạy con để dạ thương yêu bênh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp” 
[Thánh ngôn hiệp tuyển, tr.235-236]

Thánh giáo của Đạo Cao Đài đề cập rất rõ việc nữ giới giữ phẩm vị trong tổ chức tôn giáo:
“Đường thị! Thầy giao phe nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài. Phần các con truyền đạo kỳ Phổ độ nầy cũng lắm nặng nề; bao nhiêu Nam tức bao nhiêu Nữ; Nam biết thành Tiên Phật, chớ Nữ lại không sao? Thầy đã nói Bạch Ngọc Kinh có cả Nam và Nữ, mà phần nhiều Nữ lấn quyền thế hơn Nam nhiều. Vậy con phải tuân lịnh Thầy mà lập thành Nữ phái. Nghe và tuân, Thầy hằng ở bên con, lo chung cùng con; con chớ ngại”
[Thánh ngôn hiệp tuyển, tr.32-33]

Trong Đạo Cao Đài, việc tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn trong được xem như là sự tiếp nối tư tưởng kính trọng và thờ phụng Thánh Mẫu của cộng đồng cư dân Nam Bộ. Trong văn hóa Nam Bộ, yếu tố Nữ Thần và Thánh Mẫu chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian. Cụ thể là các vị như: Lê Sơn Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Mẫu Thiên, Mẫu Địa và các vị Nữ thần như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Vị Tiên Nương… đã xuất hiện lâu đời trong hệ thống thờ tự của cư dân Nam Bộ. Đạo Cao Đài đã tiếp thu yếu tố này và chọn Diêu Trì Kim Mẫu như là một biểu trưng nhằm dung hòa tín ngưỡng truyền thống tại Nam Bộ, đồng thời cũng để giải thích về triết lý Âm – Dương theo giáo lý Cao Đài.

Chữ Diêu, hoặc Dao, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quý báu. Chữ Trì là ao nước hay là hồ nước. Chữ Diêu Trì hợp lại có nghĩa là ao nước hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quý báu. Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các kim loại như bạc, đồng… thuộc về Tây Phương. Theo Bát quái Hậu thiên, Kim này ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim. Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể thuộc về hữu hình. Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Hữu danh, vạn vật chi mẫu”, nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, nó là Mẹ sinh muôn vật.

Theo vũ trụ quan Cao Đài Tiên Thiên, khi chưa có trời đất, còn trong thời kỳ hỗn mang hay hồng mông, vũ trụ chỉ là một khoảng không mờ mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược chưa phân, nhưng vô cùng huyền diệu, chỉ có một chất khí gọi là “Tiên Thiên hư vô chi khí”. Khí hư vô ấy quay vòng rồi ngưng kết, phát ra một tiếng nổ lớn, sinh ra một điểm Thái Cực, Đạo Đức Kinh gọi đó là: “Đạo tự hư vô sanh nhất khí” tức khối Đại Linh Quang, Đại hồn của vũ trụ với tính trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng. Từ đây, vũ trụ bắt đầu có ngôi Thái Cực duy nhất, là Đại hồn của một đấng duy nhất gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà tín đồ Cao Đài thường gọi là Đức Chí Tôn. 

Từ ngôi Thái Cực, mới phân lập ra hai Nghi Âm - Dương và chưởng quản phần Dương quang, đồng thời hóa thân ra Diêu Trì Kim Mẫu từ khối Vô Cực ban đầu để chưởng quản phần Âm quang. Vậy, nguồn gốc của Diêu Trì Kim Mẫu là hóa thân đầu tiên của Ngọc Hoàng Thượng Đế để làm chủ khí Âm quang, cầm phân nửa quyền lực với Ngọc Hoàng Thượng Đế và luôn tùng theo mạng lịnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Sau đó, Diêu Trì Kim Mẫu thâu lằn sinh quang của ngôi Thái Cực, đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo ra các tầng trời, tinh cầu và các địa cầu, tạo thành Càn khôn vũ trụ. Tiếp theo, định vị Kim Bàn nơi Tạo Hóa Thiên mà sinh hóa ra Bát hồn nơi cõi Thiêng liêng vô hình gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn và cho đầu kiếp xuống các địa cầu tạo nên vạn vật chúng sinh. 

Vì vậy, Diêu Trì Kim Mẫu là đấng nắm cơ sanh hóa, thay mặt Chí Tôn đứng ra thâu cả Thập Thiên can đem hiệp với Thập nhị Địa chi mà tạo nên muôn vật. Như thế, con người nơi cõi phàm trần ngoài hai Đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa. Nói chung, toàn bộ chúng sinh trong Càn khôn vũ trụ hay toàn cả Vạn linh đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Diêu Trì Kim Mẫu, dầu cho là các vị Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Lão Tử, Khổng Tử, Chúa Jésus… tất cả đều là con cái của Ngọc Hoàng Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu.
Vì là Mẹ sanh của muôn vật, là bậc rất mực tôn nghiêm và cao tột, có tình thương bao la, không cùng không tận đối với vạn vật nên còn có danh xưng là Vô Cực Từ Tôn. Tóm lại, trong danh xưng tuy phân biệt là Cha, là Mẹ, nhưng trong ý nghĩa siêu việt của chân lý thì Cha và Mẹ là một, hay Thái Cực và Vô Cực cũng là một, một bản thể chân như tự tánh, chí cực chí tôn, tự hữu và hằng hữu.

Trong bài Phật Mẫu Tâm Kinh có đoạn:

“Từ hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ
Cho thiếp quyền quản khí hư vô
Lấy âm quang tạo khách tăng đồ…”

Và: 

“Chưa ai vào đến cõi trần này

Chẳng thọ lấy chơn thần tay thiếp

Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp

Rồi dắt dìu cho hiệp với Cha”.


Từ đây, có thể thấy vai trò và công đức của Diêu Trì Kim Mẫu qua sự tôn kính trong ý thức và đức tin của người tín đồ Cao Đài. Chính vì vậy, đại lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – Hội yến Bàn Đào hằng năm được xem là ngày lễ trọng bậc nhất của cộng đồng tín đồ Đạo Cao Đài.

Có nhiều cơ sở cho thấy sự bình đẳng của nữ giới trong Đạo Cao Đài không chỉ trong hệ thống tổ chức và cả trong đời sống tôn giáo, có thể nhận ra các điểm quan trọng sau: 

+ Mỗi phái đều có những phẩm trật tương đương từ hàng thấp nhất ở cơ sở địa phương đến hàng cao nhất ở giáo hội Trung ương. 

+ Đồng phẩm thì đồng quyền nam phái chứ không phải thấp hơn. 

+ Số lượng chức sắc nam phái thì giới hạn, còn nữ phái thì không. 

+ Được tham dự các buổi hạnh đường chung với nam phái, được bồi dưỡng nâng cao để trở thành người hướng đạo hoặc thuyết đạo như nam phái.

+ Trong các đàn cơ, các vị giáng đàn thường có cách xưng hô: “Thầy mừng các con nam nữ..” hay “Chào chư thiên mạng, nam nữ đàn tiền…” tức đây không phải là nơi chỉ dành dạy riêng cho nam phái.

+ Tòa thánh và thánh sở địa phương đều có cổng, cửa, khu vực dành cho nam phái và nữ phái riêng biệt.

+ Khi vào chánh điện hành lễ thường vào một lượt từ hai cửa, nam nữ đồng phẩm quỳ ngang hàng nhau theo hai bên nam nữ.

+ Ở Tòa Thánh có ngôi chánh điện tôn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn có ngôi Diêu Trì Bửu Điện - nơi tôn thờ Diêu Trì Kim Mẫu và các vị Thánh mẫu, điều này cho thấy có sự bình đẳng về phương diện tâm linh. Ngoài ra, còn có các nơi như Nữ Đầu sư Đường, Tòa hành đạo Nữ Phái, Định Ngươn Đường Nữ phái là các trung tâm sinh hoạt đạo sự quan trọng của phái nữ trong nền Đạo Cao Đài. 

+ Trong phạm vi sinh hoạt xã hội, cũng như trong hành chánh đạo, phái nữ được đặt ngang hàng với nam giới, cũng có quyền ứng cử vào các vị trí như Đại biểu nhơn sanh ở cấp cơ sở, hay ủy viên Ban thường trực của Hội thánh và thành viên Thượng Hội. Nữ phái có quyền tự do tham gia bầu cử, ứng cử vào các cơ quan hành chánh đạo, cùng góp ý kiến và kiểm soát các sinh hoạt của Đạo từ Trung ương đến địa phương. 

+ Trong các nghi lễ vòng đời cũng không có sự khác biệt giữa nam nữ trong cùng phẩm cấp.

+ Trong cửa đạo, Nữ phái cũng chứng đắc được các ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật như Nam phái. 

+ Nhận thức của nhiều người thường bị ảnh hưởng bởi quan niệm “nam thanh nữ trược”, bản thân của nữ giới càng bị ám ảnh bởi việc thân thể không được sạch sẽ nên cũng trở thành một rào cản khi đến với tôn giáo. Sự cấm kỵ đối với phụ nữ đến các nơi thờ tự tín ngưỡng lâu nay là chuyện thường gặp. Tuy nhiên, có một đoạn Thánh giáo sau đã thay đổi quan niệm trên trong tín đồ của Đạo Cao Đài:

“Nhục thể phàm phu trược đã đành

Chẳng vì nhiệt huyết kỵ anh linh

Tương thân nam nữ hoa trao bướm

Hòa ái âm dương thủy nhập bình

Tạo hóa là tay xây đảnh trí

Chúng sanh như mặt chạm khuôn hình

Thợ Trời nào nỡ chê đồ tạo

Xấu tốt sạch dơ bởi miệng mình”.

[Thánh giáo Bát Nương]


Vì vậy, quan niệm sạch sẽ về thể chất và linh hồn đã được thể hiện khá rõ. Điều đặc biệt hơn ở Đạo Cao Đài là trong cơ quan Hiệp Thiên Đài cũng có sự hiện diện của nữ giới đảm nhận nhiệm vụ đồng tử hoặc các chức sắc giám luật làm nhiệm vụ hướng đạo như nam giới. Đồng thời, về phương diện tu tịnh (nội giáo tâm truyền), còn có cả Định Ngươn Đường dành riêng cho Nữ phái. 

Nhìn từ góc độ tiến bộ xã hội thì đây là một cuộc cách mạng lớn, trong lúc xã hội phương Đông còn chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo với quan niệm cứng nhắc về người phụ nữ như: “khuê môn bất xuất” hay “chồng chúa vợ tôi”, thì giáo lý của Đạo Cao Đài đã có bước giải phóng phụ nữ trước thời đại, nâng người phụ nữ lên một tầm vóc mới. 

Từ đây có thể nhận thấy, yếu tố phân biệt giới đã có sự chuyển biến rõ rệt theo xu hướng bình đẳng giữa nam nữ, đây chính là nét đặc trưng của thể chế Đạo Cao Đài nói chung, vị trí của người phụ nữ được khẳng định nhiều hơn trong xã hội và trong cả đời sống tôn giáo. Cho nên có thể thấy tư tưởng của Đạo Cao Đài là tư tưởng bản nguyên của con người, hoàn toàn thích ứng với tinh thần đổi mới và hội nhập hiện nay của dân tộc và thế giới.


TÌM HIỂU NGŨ NGUYỆN TRONG CÚNG TỨ THỜI

TÌM HIỂU NGŨ NGUYỆN TRONG CÚNG TỨ THỜI

Vậy chúng ta xem coi ta nguyện vậy với ý nghĩa là làm sao? Xin mời quý vị hảy để tâm theo dõi.

Đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn sáng lập tại Nam Bộ nước Việt Nam, đại đa số tín đồ là nông dân, có đức tin tín ngưỡng chân thành với thiêng liêng và lòng thiết tha yêu nước, yêu dân tộc, yêu chuộng hòa bình do bản chất hiếu hòa, vốn có của người Việt, Nam-Bộ, được ơn trên truyền dạy Tân Tôn giáo bảo trì nền văn hóa cổ truyền dân tộc qua nghi lễ tôn giáo, để thể hiện thật rõ nét tôn giáo dân tộc. Hay nói cách khác. Đạo Cao Đài là một Tôn giáo phát sinh từ nền văn hóa, đặc thù khu vực đồng bằng Nam bộ, hoặc nền văn hóa đặc thù khu vực hình thành Đạo Cao Đài, bởi vì thời gian xuất hiện Đạo Cao Đài cũng là thời gian định hình xã hội Nam-Bộ.

Quan điểm bảo trì văn hóa cổ truyền dân tộc đặc thù khu vực của Đạo Cao Đài theo tinh thần cởi mở của người Việt Nam ở Nam-Bộ, sẳn sàng đón nhận tinh hoa tốt đẹp từ bốn phương, từ tinh thần đó. Ơn trên nêu tôn chỉ “ Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi hiệp nhứt”, xóa định kiến, xóa kỳ thị, hòa hợp tín ngưỡng, hòa đồng nhơn loại, mang tính đại đoàn kết xã hội loài người, không phải vay mượn hay chấp vá như người ta từng xuyên tạc.

Hôm nay chúng ta hảy xem những việc làm thực tế mà hằng ngày chư môn đệ của Chí Tôn nguyện ước, cần thực hiện thật tốt trong đời sống với đạo và xã hội.

Người theo đạo, chỉ tất yếu hướng thiện và hướng thượng, bước đầu của đời tu hành sửa mình trở thành người tốt, có ích lợi cho xã hội phát huy đạo đức tôn giáo trước xã hội nhân quần, làm cho nền đạo ngày càng sáng tỏ, có tốt đạo mới đẹp đời, đạo đức tốt, thì đời sống đẹp, hay là tôn giáo tốt, thì xã hội đẹp.

Muốn làm được những tốt đẹp như trên đã nói, trước hết chúng ta thực hiện những điều ta hứa trước mặt Chí Tôn mỗi ngày bốn lược trong khi niệm hương, mở đề là câu kinh:

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”, Bao trùm cả giáo lý, gói gọn tư tưởng đạo đức vào bảy chữ của câu kinh, cái gốc của đạo là sự thành kính, thành thật, tin tưởng và hòa hợp, thành tâm thật ý trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt dẫn độ quần sinh và trong đời sống tu hành sẽ đi đến thành công, đắc quả. Có thành thật, thành kính với lòng trong sáng không gợn chút tà niệm nhỏ nhen, mới phát xuất được tư tưởng chân chính, có đức tin thiêng liêng, niềm tin nhân loại , tín nhiệm lẫn nhau phát xuất tình thương yêu, hòa thuận, đoàn kết là thuận đạo, ngược lại là trái đạo.

Cũng từ câu kinh trên, các đấng thiêng liêng từng dạy chúng ta:
Hiệp nhứt tư tưởng thuần túy đạo đức”.
Hiệp nhứt tư tưởng không phải buộc tất cả xoay về một ý nghĩa giống nhau, không được nghĩ khác. Hiệp nhứt những ý thức trưởng thành, những tương đồng để linh động hóa tiềm năng vô cùng của con người vốn sâu thẳm làm nét kẻ lưởi cưa theo đúng ni đúng mực… Hiệp nhứt tư tưởng có ý nghĩa rất rộng là cùng đi trên tiêu chuẩn giống nhau trên chủ thuyết.

Thuần túy đạo đức” của Đấng Chí Tôn đã dạy:
Thuần túy đạo đức được mô tả trong hình dạng trung hòa không thiêng lệch, thể theo lòng trời mà phát tiết ra hành động. Thuần túy đạo đức không phải tách rời mọi hoạt động xã hội, mà là hòa nhập vào xã hội để phát huy giá trị đạo đức của tôn giáo trong sinh hoạt xã hội thường ngày.

Hiệp nhứt tư tưởng để tiến đến thống nhứt lý tưởng thực hành đạo đức thuần túy, bước đầu ta cố gắng thực hiện những câu khấn nguyện của ta với Đấng Chí Tôn mỗi ngày bốn lược sau khi niệm kinh:
Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai”
Lời ký hứa để thực hành cụ thể, không đợi quyền năng vô hình làm thay.
Bởi đạo lý, hư vô bàn bạc trong không gian và tất cả đều hấp thụ sự sinh tồn bởi đạo. Cái đạo vĩ đại vô cùng, vô tận chúng ta không thể hiểu hết được.

Lời nguyện Đại Đạo hoằng khai của chúng ta xuất phát từ nơi chí thành, chí kỉnh tận nơi đái lòng tín ngưỡng. Muốn đem Đại Đạo đưa ra cho thiên hạ tất phải qua trung gian thiên hạ tức là con người. Đó là những thiên mạng có trách nhiệm thay Thầy hành đạo, trách nhiệm đó không chỉ riêng cho hàng thiên phong, chức sắc mà là việc chung của cả chư môn đệ Chí Tôn, bất cứ ai có tâm thành vì đạo, có nhận thức đạt được lý đạo đều là nhân tố hoằng khai Đại Đạo bất cứ hình thức nào.

Hoằng khai Đại Đạo không chỉ tuyên truyền rao giảng, mà tự bản thân người thiên phong tín hữu, toát lên được những cơ bản đạo đức, tôn giáo, thì xã hội mới thấy được chân giá trị của nền đạo. Người xưa có bảo:

Ngôn giáo bất như thân giáo
Thật chí lý, ta rao giảng thật nhiều về đạo, mà bản thân ta chưa có đạo, thì không có hiệu quả, mà cụ thể hơn hết là bản thân mình trong mọi hoạt động nên làm đạo đức chơn chánh, làm tiền đề cho đạo đức tôn giáo.

Đạo đức là đầu mối sinh hoạt xã hội, đối với bản thân không hủy hoại tinh thần hay thể xác, vì nó là tinh anh của tạo hóa ban cho, đối với gia đình phải thật sự xứng đáng với vị trí của mình, Nếu là ông bà, cha mẹ thì phải gương mẫu. Nếu là con cháu thì phải hiếu thảo. Nếu là chồng, vợ thì phải thủy chung. Nếu là người công dân thì phải trung thành với Tổ Quốc của mình. Vì đó là đơn vị của xã hội, đơn vị của tôn giáo. Đối với xã hội , lấy nhân, trung, nghĩa xữ thế tiếp vật. Người sống có đạo đức không có những oán thù trong cuộc sống, không kỳ thị mà luôn có tình thương, không cầu phước, mà luôn thực hành ban phước… Từ đó, mới đem chân truyền pháp nhiệm của Chí Tôn đưa vào cuộc sống, chúng sinh tiếp nhận để trở lại lẽ sống tự nhiên của nhân bản, của chơn như.

Thiên nhiên là đạo.
Dưỡng dục quần sanh thống ngự vạn vật”. Nhựt nguyệt âm dương, mưa nắng điều hòa để cho sự sống trên mặt đất quân bình, cái đạo của Trời đất rất êm đềm, lặng lẽ mà rất huyền diệu nhiệm mầu, chúng ta nguyện hoằng khai Đại Đạo tất phải hành động theo đúng cái đạo của Trời đất, thể hiện Công bình, Từ bi, Bác ái trong êm đềm lặng lẽ mà rất ích lợi cho nhơn loại xã hội. Hoằng khai không phải quảng cáo phô trương, hoặc làm phép lạ để kích thích tò mò, mà phải đưa lẽ thật đạo lý siêu nhiên, tự nhiên và đạo đức tôn giáo đi vào đời sống thật sự.

Nhì Nguyện Phổ Độ Chúng Sanh”.
Nói chung tất cả mọi vật có sự sống tại mặt đất từ tế vi chí đến bậc cao nhất là con người. Phổ độ chúng sinh thì phải tận dụng quyền năng nhân bản của mình đối với mọi vật, mọi người, không tàn hại bất cứ vật gì, mà cần phải ban bố tình thương theo đức háo sanh của Thượng Đế, phổ độ không phải rù quến, bắt ép, hoặc tranh thủ giành giựt cho được nhiều người theo tôn giáo mình cho thật đông, cũng không phải thu mình trong vỏ ốc chờ đợi huyền linh thiêng liêng. Mà cần phải phát huy nội lực, phát huy đạo đức, làm cho chúng sinh cảm nhận được chân giá trị của đạo đức rất chân chính của tôn giáo, qua sinh hoạt bản thân mình, được xã hội nhìn vào đánh giá cao, từ đó chúng sinh mới có tự giác về với đạo lần đưa xã hội đến chân, thiện, mỹ nếp sống của chúng sinh sẽ được đạo đức văn hóa, muốn phổ độ chúng sinh mà chính bản thân ta giữ chưa tròn pháp giới còn tham, sân, si, tật đố, đạo đức của mình thể hiện chưa đầy đủ, chưa thật sự chân chính, giử được niềm hòa thuận thương yêu nội bộ chưa tốt thì vấn đề phổ độ chúng sinh không hiệu quả. Trái lại còn làm cản ngại đức tin, niềm tin của chúng sinh. Có tác hại lớn lao về giá trị tôn giáo, vì chúng sinh sẽ đánh giá thấp về cái đạo.

Tam Nguyện Xá Tội Đệ Tử”.
Xin xá tội đệ tử trong đó có mình. Nhưng khi xưng tội phải biết mình đã phạm tội gì, sau khi xưng tội, phải chừa tội.
Thường thì trong cái ích kỷ hẹp hòi của chúng ta luôn muốn được ơn trên xá tội cho mình, nhưng mình không bao giờ tha thứ lỗi lầm của người khác, nếu bản thân mình muốn được xá tội, thì hảy tha thứ tất cả những lỗi lầm của người khác bất cứ là ai đem đến cho mình, để tâm hồn của mình được nhẹ nhàng thư thái.

Các giáo chủ đời xưa hằng dạy:
“Từ bi hỷ xã cho chúng sinh” hay là “Nhẫn, nhẫn, nhẫn, oan gia trái chủ tùng thử tận, Nhiêu, nhiêu, nhiêu thiên tai vạn họa nhất đề tiêu” Hoặc: “Nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì cha của các ngươi trên trời, cũng sẽ tha thứ cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì cha các ngươi cũng không tha lỗi cho các ngươi”.
Thiên thượng chí công không vì đa lễ cầu xin mà được phúc, không vì thiếu lễ, thiếu cầu xin mà buộc tội, tội lỗi do chính mình gây nên ràng buộc cho mình, cần phải tự mình mở dây ràng buộc, bằng cách xá tội cho anh em mình, mở rộng tình thương, nâng đỡ cho chúng sinh trên đường tấn hóa đó là các đức hạnh ban đầu của môn đệ Chí Tôn. Xin xá tội cho mình mà khư khư buộc tội người khác là ích kỷ hẹp hòi, trái lời cầu nguyện, chưa đủ tư cách là môn đệ đức giáo chủ Đạo Cao Đài.

“ Tứ nguyện thiên hạ thái bình”.
Nội dung của ba câu trên gần như giải đáp câu nầy khá rõ. Muốn cho thiên hạ thái bình thì bản tâm mỗi con người có thái bình trước. Trong khi bản tâm của ta còn chứa nhiều thị dục, tham lam, si mê, ái ố, chấp ngã…phát xuất từ hành động xấu cho xã hội thì lời nguyện không đạt.

Chơn như bất động, tự lòng phải thanh tịnh bình thản trước mọi sự việc không cố chấp, không vương vấn hoàn cảnh bởi nhân tâm quanh mình. Thái bình được xuất hiện từ nội tâm của mỗi con người và nhân rộng ra quãng đại nhân sinh tác động vào xã hội, mỗi người có được tâm định bình tỉnh, thì thái bình sẽ đến. Thiên hạ thái bình không dễ có, bởi nhân tâm xã hội. Tuy nhiên là môn đệ Chí Tôn, phát tâm cầu nguyện thiên hạ thái bình, thì tự nơi mình, phải thật sự có thái bình trong tâm linh bằng sự chí thành, chí kỉnh với thiêng liêng và xã hội.

“ Ngũ nguyện Tịnh Thất an ninh
Ở đây chúng ta không nói ngũ nguyện Đại Đạo qui nguyên, vì nó có nội dung và ý nghĩa khác.
Câu nguyện nầy mới nghe qua thì ai cũng sẽ ngạc nhiên, tại sao Đạo Cao Đài chủ trương đại đồng nhơn loại, mà chỉ cầu nguyện cho một Thánh Thất, Thánh Tịnh của riêng mình?

Thực chất đây là đạo lý !. Tam đài Thánh Tịnh là thánh thể Chí Tôn tượng trưng kiền khôn vũ trụ, guồng máy Đại Đạo, thánh thể siêu nhiên đó, phải được bình yên, thì kiền khôn mới an tịnh. Kiền khôn an tịnh thì vạn loại hòa bình, Kiền khôn được an tịnh thì vạn loại không thù nghịch lẫn nhau, không thù nghịch lẫn nhau thì mới giữ bền cơ sanh hóa. Kiền khôn được an tịnh mới giữ được bửu vật của trời đất và của người. Kiền khôn an tịnh nhơn loại mới bình yên, phong hòa vũ thuận, cuộc sống của nhơn loại mới có an cư lạc nghiệp. Cụ thể hơn, một đơn vị của Đại Đạo bị mất an ninh, nội bộ sẽ bị ảnh hưởng lớn cho nền đạo. Nếu một bộ phận trong cơ thể bị đau thì toàn thân không thể khỏe mạnh.

Do vậy, tình thương yêu đoàn kết, đức độ lượng khoan dung và tha thứ lỗi lầm cho nhau là đầu mối cho an ninh Tịnh Thất. Nếu chưa thật sự đoàn kết thương yêu, tịnh thất còn nhiều rắt rối, nội bộ do chấp ngã tranh đấu, giận hờn nhau, chưa hòa thuận nhau thì tịnh thất chưa an ninh, như vậy bốn câu nguyện bên trên hoàn toàn vô nghĩa, xem như là lừa dối Chí Tôn, miệng thì luôn khấn nguyện, nhưng thức tế trong lòng mỗi người còn đố kỵ lẫn nhau, như vậy sẽ trở thành con vẹt học nói, mà chính nó cũng không biết nói gì, trái lại còn tác hại to lớn đối với công cuộc mở đạo độ đời của Chí Tôn, vì nền đạo bị chúng sinh phê phán, xem nhẹ, đánh giá thấp. cái Tịnh thất đó và luôn cả cái hệ thống tổ chức đó.
“ Tạo chúc cầu minh, đọc kinh cầu lý”.

Chúng ta tụng kinh không chỉ kể lại thành tích đạo đức của các sư tổ để kính phục, cũng không phải tụng đọc để các đấng chấm công, hoặc đọc nhiều lần, nhiều ngày để đạt thành chánh quả. Hay là tụng đọc cho các đấng nghe. Cái sâu xa trong tụng kinh là tìm hiểu các đấng dạy gì, để ta làm theo lời dạy đó, công phu là định tỉnh lắng lòng, kiểm điểm sinh hoạt của mình, những điều đúng, điều sai, để sửa chửa.

Kinh Cao Đài ơn trên dùng chữ Việt, tiếng Việt đặc biệt là ngôn ngữ của cư dân đồng bằng Nam Bộ, phổ vào thơ văn diệu lý dễ nghe, dễ hiểu, khỏi chờ đợi thích nghĩa. Cho dù thành phần nào trong xã hội khi nghe và đọc cũng hiểu lời kinh tiếng kệ đó ý nghĩa ra làm sao và khuyên chúng ta phải làm gì. “ Cái đạo chẳng phải nơi lời nói suông, mà ở chỗ kết quả sự thật mình làm, không phải nơi câu kinh tiếng kệ. Mà buộc ở hành vi người giữ đạo, không phải ở sự giảng dạy, mà ở sự thực hành. Cái hay của Đạo, không phải nơi yếu lý. Mà ở kết quả cuộc giáo truyền !.
 Mỗi ngày bốn lược chúng ta quỳ trước Đức giáo chủ vô vi niệm kinh, đầu đề là:

“ Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp” .cuối đề là: “ Ngũ nguyện tịnh thất an ninh”.
Là những ký hứa trong chân thành tín ngưỡng, thực hiện tốt được những điều ký hứa đó, thì đã hoàn thành một phần lớn sứ mạng của mình, đã trở thành Giáo sĩ, truyền đạo hay là sứ giả thái bình nhơn loại, khỏi phải đi tìm cái gì đó xa xôi, cao vợi và cũng không chờ đợi phép mầu nào từ vô vi ban đến, hoặc tụng đọc rồi ngồi đó trông chờ các đấng thiêng liêng sẽ làm thay cho mình? không phải là như vậy.

Thiên kinh vạn điển bất quá hồi thiệt” được gợi lại trong câu kinh “ Làm người nhơn nghĩa xử tròn, muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa”.
Cuối bài, chúng ta sẽ nghe lại một đoạn Thánh ngôn của Đức Tôn Sư Đông Phương Chưởng Quản dạy:
Chư hiền đệ, hiền muội ý niệm như vậy thì tư tưởng mỗi người đều đồng nhứt theo đó nếu sai một ly sẽ đi một dặm.
Đường lối hướng về lý tưởng hay mục đích của Đại Đạo là đem đạo cứu đời lập lại đời thuần lương thánh đức, nền tảng cốt yếu là như vậy, chớ thật sự không ngoài câu: “ Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ” hoặc “ Nhất trí bách lự”.
Nghĩa là: Con người cùng về một điểm giống nhau, bằng những đường lối khác nhau và cùng đạt tới sự hiểu biết duy nhứt, bằng những ý nghĩ suy gẩm khác nhau.
Bần đạo nói khác nhau đây là những đường lối tạm mượn chớ không phải khác nhau về tư tưởng, tôn chỉ nêu trên”

                             “ Đâu là quy hiệp vạn tôn môn,
                             Về một ngôi nhà của Chí Tôn,
                             Đế đạo đời đây không nhạc sắc,
                             Cho người kia chẳng lạc linh hồn./.

                                             gh


                Ý NGHĨA NGŨ NGUYỆN VĂN BÀI:

                   Hằng ngày cúng tụng cầu ngũ nguyện,
                   Phải hiểu rành nghĩa hiện nghĩa đen;
                             Gìn lòng hướng thượng cho quen,
          Thực hành công quả, nhúm nhen công trình.
                   Lời mình hứa, lời mình khẩn nguyện,
                   Thì cố công thực hiện cho nên;
                             Chớ đừng ỷ lại ơn trên,
          Mà mình chẳng cố công lên giúp đời.
                   Nhứt nguyện cầu đạo trời khai sáng,
                   Thì bản thân phải ráng thực hành;
                             Nhơn năng hướng đạo độ sanh,
          Vì đời bao quản nhọc nhành đắng cay.
                   Thượng Đế chọn đất nầy mở đạo,
                   Việc phổ thông truyền giáo do người;
                             Tược cành có được tốt tươi,
          Chúng sanh mới gội ơn trời hiếu sinh.
                   Nhì Nguyện phổ đạo huỳnh khắp cả,
                   Cho nhơn sanh cải hóa hồi đầu;
                             Dòng đời nào ngại cạn sâu,
          Gian nan há ngại dãi dầu nắng mưa.
                   Khi quần chúng cải chừa tội lỗi,
                   Thì cán cân xã hội sẽ nghiêng;
                             Người dân bỏ dữ làm hiền,
          Nhà yên nước thạnh miên miên thái hòa.
                   Tam nguyện mở hải hà chi đức,
                   Thương chúng sanh nơi vực trầm luân;
                             Vô minh nên vướng nghiệp trần,
          Gây nhân tạo quả xoay vần chưa ra.
                   Càng chuyển kiếp càng sa đọa mãi,
                   Càng luân hồi càng lại vô minh;
                             Dễ gây bao nỗi tội tình,
          Nên tha thứ họ đồng sinh dắt dìu.
                   Tự xét còn ít nhiều tội lỗi,
                   Mà răng lòng sám hối chẳng lờn;
                             Xét mình thông cảm tha nhơn,
          Khiến người gần gũi khuyên lơn tu hành.
                   Hằng cầu nguyện cao xanh tha tội,
                   Nỡ lòng nào chấp lỗi đồng môn;
                             Sắp mình cầu khẩn Chí Tôn,
          Mà lòng câu chấp còn ơn huệ gì.
                   Tứ Nguyện đấng Từ bi ban phước,
                   Cho chúng sanh hưởng được thái bình;
                             Thì lòng ta phải tịnh thanh,
          Chuyển đi thần lực an ninh cho đời.
                   Kế đó phải đem lời đạo đức,
                   Khuyên người tu chơn thật huệ từ;
                             Bên trong đức hạnh có dư,
          Bên ngoài mới có an cư thái bình.
                   Thiên hạ là chúng sanh ngoại cảnh,
                   Cũng là trong tâm hạnh của mình;
                             Đó là sáu dục bảy tình,
          Chế ngăn cho được thái bình dài lâu.
                   Ngũ nguyện là vọng cầu Thánh Thất,
                   Là ngôi chùa vật chất hữu hình;
                             Làm chi mà mất an ninh,
          Hiểu như thế đó vô tình lắm ru?
                   Nếu đồng đạo không tu không tập,
                   Tánh tình không thụ hấp nghĩa nhân;
                             Lòng hằng si dục tham sân,
          Nhỏ nhen tật đố bâng khuâng dài dài.
                   Thì dầu nguyện hết ngày mãn tháng.
                   Chỉ luống lòng nào đặng an ninh;
                             Mà lo tu sửa tánh tình,
          Khoan dung hòa ái giữ gìn cho nhau.
                   Mạnh giúp yếu, kẻ giàu giúp khó,
                   Trí giúp ngu, lớn nhỏ dìu nhau;
                             Thì dầu chẳng nhọc nguyện cầu,
          An ninh tự nó chực chầu đến ngay.
                   Thánh Tịnh gồm ba đài cả thảy,
                   Là Cửu trùng, Bát quái, Hiệp thiên,
                             Tương quan thân thể tam điền,
          Biết tu dụng nó làm Tiên siêu phàm.
                   Tam đài cũng là tam bửu đó,
                   Trời, Đất, Người nào có khác chi;
                             Trời thời Nhựt, Nguyệt, Tinh vi,
          Đất thì Thủy, Hỏa, Phong phi bảo tồn.
                   Người Tinh, Khí, Thần hồn bền chặt,
                   Do đó mà thành Phật, đắc Tiên;
                             Học tu phải hiểu nghĩa huyền,
          Mới mong đạt lý siêu nhiên đại thừa.
                   Đây ngũ nguyện nhặt thưa phân giải,
                   Xin ai đừng hiểu trái cạn nông;
                             Rồi theo sắc tướng ngoài vòng,
          Để cho ánh đạo trong lòng mờ lu.
                   Rồi phí uổng công phu một kiếp,
                   Lẩn quẩn trong tứ hiệp giả không;
                             Ra vào trong bánh xe luân,
          Nhà xưa cảnh cũ muôn phần xa xăm.
                   Vậy tu phải lấy tâm làm gốc,
                   Tâm cùng trời là một cội nguồn;
                             Nội tâm tự quản linh thông,
          Thiên nhơn hiệp nhứt huyền đồng là đây.
                   Ngược lại nếu những ai vào đạo,
                   Mà chỉ lo cơm áo gạo tiền;
                             Chạy theo lợi lộc uy quyền,
          Ẩn trong lớp áo tu hiền khéo khôn.
                   Đó là lốt bàn môn tả đạo,
                   Đó là khoa tà giáo hiển danh;
                             Nội tâm chẳng luyện chẳng hành,
          Để tham sân dục biến sang nẩy mầm.
                   Dầu có nguyện ngàn năm mãn kiếp,
                   Thì cũng không giải nghiệp được đâu;
                             Huống chi chỉ có năm câu,

          Phóng tâm loạn tưởng vọng cầu mênh mông./.

TÌM HIỂU LÝ DO TRỜI KHAI ĐẠO CAO ĐÀI TẠI VIỆT NAM

TÌM HIỂU LÝ DO TRỜI KHAI ĐẠO CAO ĐÀI TẠI VIỆT NAM.
SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP CỦA CAO ĐÀI TIÊN THIÊN
---------------------------------------------------------------------------------------
Đề tài này gồm 5 phần:
Phần I- Dẫn nhập.
Phần II - Tìm hiểu thiên cơ.
Phần III - Sự hình thành phát triển và hội nhập của Cao Đài Tiên Thiên.
Phần IV - giáo lý Đạo Cao Đài dạy gì ?
Phần V - Kết bài:
 ---------------------------------------------------------------------------------------

Phần I
DẪN NHẬP.
Lịch sử các tôn giáo trên thế giới hơn hai ngàn năm đã có nhiều bậc giáo chủ, Thánh nhân khai sáng đạo, để giác ngộ nhơn sanh ngõ hầu hoàn thiện con người và xã hội.

Đến ngày nay, các tôn giáo lớn vẫn đang phổ truyền kinh điển và pháp môn tu luyện cho hàng trăm triệu tín đồ. Tuy nhiên trên thế giới chiến tranh vẫn còn tiếp diễn, bạo lực và tàn sát diệt chủng vẫn còn; nghèo đói, bệnh tật vẫn tràn lan ở nhiều nước, mặc dù văn minh khoa học đã đạt đến đỉnh cao thời hiện đại. Người ta tự hỏi vai trò của Tôn giáo liệu có thể đem lại hòa bình, an lạc, tiến bộ cho nhơn loại?
Trong khi đó, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, một Tôn giáo xuất hiện!

Phần II
TÌM HIỂU THIÊN CƠ TIỀN ĐỊNH.
- Nguyên nhân theo thiên cơ.
Các kinh điển và cơ bút từ xưa đã tiên tri Tam kỳ Phổ Độ sẽ được mở ra vào thời hạ nguơn, và danh hiệu Cao Đài sẽ xuất hiện vào thời kỳ nầy Tam Kỳ Phổ Độ ứng với thời hạ nguơn tức là cơ cứu độ lần thứ ba sau nhứt kỳ phổ độ vào thượng nguơn và nhị kỳ phổ độ vào trung nguơn.

Thánh giáo ơn trên cho biết, theo luật tuần hoàn trong trời đất, hay là luật Chu nhi phục thỉ thì con đường sanh hóa và tiến hóa của vũ trụ vạn vật diễn tiến theo từng chu kỳ, từ khởi thỉ đến kết chung theo một vòng tròn, cuối cùng lại trở về điểm khởi đầu.

Do đó thời hạ nguơn là thời cuối cùng của chu kỳ đó, sẽ chuyển biến ráo riết trên mọi mặt để chúng sanh trên thế gian được sống trở lại thời thượng nguơn.

Trong kinh Đại thừa chơn giáo. Đức Chí Tôn đã dạy rõ:
Các con khá biết: Đạo có ba nguơn, ba nguơn ấy là cái số cuối cùng của Trời, Đất. Trước hết mở đầu là Thượng nguơn, thượng nguơn đây chính là: Nguơn Tạo Hóa Kế đó bước qua trung nguơn thì nhân tâm bất nhứt Bởi đó đời trung cổ mới có danh là đời Thượng Lực, mà trung nguơn ấy cũng kêu là nguơn Tranh đấu nữa. Tiếp đến hạ nguơn, sự tranh đấu ngày càng ráo riết dữ tợnCòn hạ nguơn nầy là nguơn Điêu tàn

Nhưng hễ loạn là tới trị, vong tất phục hưng, nên nguơn tiêu diệt tất sẽ bước đến nguơn bảo tồn là nguơn đạo đức phục hưng, để sắp lập lại như đời thượng cổ, thế nên cũng gọi là nguơn Tái tạo

Thế nên Đức Thượng Đế khai Tam Kỳ Phổ Độ để đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh biết giác ngộ, phục hồi nhân bản, sống đời thuần lương, dần dần xây dựng kỷ nguyên thánh đức.

Đức Chí Tôn đã tiết lộ thiên cơ:
Các con ôi! Thầy là chúa tể càn khôn, sanh ra muôn loài vạn vật, bao nhiêu cuộc tuần huờn, dinh hư tiêu trưởng, đó là sự mầu nhiệm của Thầy đã định sẳn vì vậy, mà buổi hạ nguơn, Thầy đến xứ Việt Nam nầy để khai đạo, kêu gọi các bậc nguyên nhân hảy sớm lập công bồi đức, hướng dẫn toàn thể sanh linh tỉnh tu, để về cõi trường tồn chánh giác hoặc hưởng đời Thượng nguơn thánh đức”.
Dân tộc Việt Nam vốn con Hồng cháu Lạc gốc bởi Thần Thánh noi truyền. Có lòng tin tưởng Trời, Phật, Thánh, Thần, kính thờ nhiều Tôn giáo, ham mộ đạo đức tu hành, nên đã biết và tin chắc là có linh hồn, có tội, có phước.

Trên thế giới xưa nay, khi nào bị hổn loạn cạnh tranh, tương sát tương tàn, gây đau thương cho nhơn loại thì có Tam Giáo ra đời để cứu độ dẫn dắt con người tìm về nẻo thiện, tìm lẽ sống, chỉ rõ đường lối sáng lạn và tương lai.

Vào thời Thượng nguơn là nguơn khai hóa tức là nguơn thánh đức. Đời từ Tam Hoàng Ngũ Đế theo Hồng Bàng huyền sử Tam Hoàng:
 “ Thiên hoàng Bàn Cổ, Địa Hoàng Toại Nhân, Nhơn Hoàng Hữu Sào.”
 Ngũ Đế: “ Phục Hy Thánh Đế, Thần nông Diêm Đế, Đế Khôi, Đế Thừa, Đế Minh.”

Nguơn nầy Thầy giao cho Tam giáo ra đời dạy dân, nhưng không lập thành giáo hội, không thu nhận tín đồ, sử dụng đức tin, kính thờ Thần linh và dạy bỏ những mê tín thờ đa thần bái vật.

Tứ Đại Thánh Nhân như: “ Nhiên Đăng Cổ Phật, Thái Thượng Đạo Tổ, Phục Hy Thánh Đế, và Thánh Môi Se. Được gọi là Tôn giáo xuất hiện lần thứ nhứt, đức tin phát khởi của nhân loại là nhứt kỳ phổ độ( Nhứt thiết long hoa hội).

Xã hội lần tiến hóa thời đại Trung cổ ( Trung nguơn) Sự biến chuyển con người cạnh tranh vì tiền tài danh vọng, càng ngày càng gay gắt hơn, không còn kể đồng loại, chủng tộc, mới xuất hiện tôn giáo cứu thế lần nữa là:
 “ Thích giáo, Lão giáo, Nho giáo và Ki Tô giáo.”
 Khác với thời kỳ thứ nhứt, các tôn giáo thời đại nầy đã hình thành tổ chức giáo hội, có giáo lý, giáo luật, giáo phẩm và ngôi thờ tự, có định hướng cho tín đồ tu học. Các Tôn giáo cổ cách nay đã trên 2.500 năm và trên 2.000 năm vẫn còn sinh hoạt bình thường rộng rải khắp nhơn loại, được xem là Nhị Kỳ Phổ Độ( Nhị thiết Long Hoa Hội), là thời kỳ thứ hai của lịch sử.

Giữa hai cuộc chiến tranh to lớn của nhơn loại( Đại thế chiến) đầu thế kỷ 20 làm cho nhơn sanh chịu nhiều đau thương mất mát. Tôn giáo mới Đạo Cao Đài kịp thời xuất hiện đáp ứng tâm linh trong cuộc sống của con người bị đe dọa liên tục từng giờ, từng phút, dựa vào đức tin cầu xin bình an, cầu xin được siêu xuất. Nếu chẳng may bị chiến tranh cướp đi sanh mạng hữu hình, thì cuộc sống bên kia thế giới vô hình được an bằng hạnh phúc. Trong khi đó Đạo Cao Đài xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại Miền Nam nước Việt Đức giáo chủ vô hình, Ngọc Hoàng Thượng Đế đã lâm trần vạch ra chủ trương  “ Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhứt”. Xây dựng tư tưởng hòa đồng Tôn giáo, nhằm xóa mọi ngăn cách tín ngưỡng.

Đạo Cao Đài hay là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đấng chúa tể càn khôn, đấng thần linh cao nhất của cộng đồng nhơn loại, được ghi nhận là Tôn giáo xuất hiện lần thứ ba ( tam thiết long hoa hội).

Vì thương nhơn loại! Nên Đức Chí Tôn khai mở Tam Kỳ Phổ Độ. Đem cơ bảo tồn ra đời cứu vớt sanh linh mà đem vào Thượng nguơn tái tạo, để đưa nhơn loại đến “ Cơ tuyệt khổ đại đồng”
          Thầy có dạy:
                             “ Từ đây nòi giống chẳng chia ba,
                             Thầy hiệp các con lại một nhà,
                             Nam Việt cùng rồi ra ngoại quốc,
                             Chủ quyền chơn đạo một mình ta.
Thầy dạy tiếp:
“Nguơn tam nguơn tuần huờn dựng lại” và cũng có câu: “ Nhứt bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhứt bổn”. Cho nên Đạo Cao Đài ra đời kỳ ba tại Việt Nam đã đúng thời kỳ, đúng thiên cơ tiền định.
Nên có câu:
                             “Từ thuở mấy nơi chẳng đạo nhà,
                             Nay ta gầy dựng lập nên ra,
                             Ví bằng ai hỏi sao bao nã,
                             Rằng trẻ nay sao biến hóa già.”
“ Các con là dân tộc Việt, cũng như các dân tộc khác, sanh trưởng trong quả địa cầu nầy, tình thương tạo hóa cũng ban đồng cho các con cũng như các con khác. Nhưng dân tộc các con đã đau khổ quá nhiều, non sông Tổ quốc các con đã bị dầy xéo lâu đời, nhưng các con được trội hơn chúng về đức tin, về lòng đạo đức, ngưỡng mộ Thượng Đế và các đấng trọn lành. Tình thương các con không thiếu, lòng hiếu hòa các con có thừa, do đó dân tộc các con mới hạnh ngộ được Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.”

Qua mấy ngàn năm lịch sử nòi giống Lạc Hồng không mấy khi thoát khỏi vòng nô lệ ngoại bang và luôn đứng trong hàng chư hầu, về phương diện tư tưởng văn hóa đạo giáo.

Hạnh ngộ thay! Vào đầu thế kỷ 20 nầy với sự thành lập trên Miền Nam Nước Việt, một nền tôn giáo mới, do Thượng Đế làm giáo chủ, phối hợp tinh hoa của các đạo giáo Đông Tây do người Việt Nam chính thức vâng hành khai mở mối đạo vàng, từ năm 1924—1925—1926 . Nước ta mới tự hào rằng đã phát sinh một tôn giáo thuần túy Việt Nam. Dùng làm mầm móng cho một nền văn minh tinh thần hội nhập, dung hòa “Tâm Vật.”

Chính cái tôn giáo đã phát sinh trên non sông đất Việt. Đạo Cao Đài giáo, hay là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. khác hơn các tôn giáo trước. Thượng Đế mở đạo kỳ ba bằng phương pháp thần linh học, thông đồng giữa thiêng liêng trong cõi vô hình và người phàm ở thế gian hữu hình.
Đấng Chí Tôn xuống điển bút cơ, lộ hé cho các môn đồ những đạo lý cao siêu để phục hưng chơn truyền nguyên thủy của các đạo giáo, với mục đích dẫn dắt tánh phàm nhơn, đến chỗ biết thực hành đạo lý thánh nhơn, cứu nhơn loại trong đời mạt kiếp.



Phần III
SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP CỦA CAO ĐÀI TIÊN THIÊN.
Tôn giáo thì hiện đại. Cao Đài Tiên Thiên xuất hiện đồng thời với các hệ phái Cao Đài năm 1926 nhưng Cao Đài Tiên Thiên, sử dụng đường lối tu tiên của dân tộc Việt, có nguồn gốc truyền thống từ ngàn xưa, được nung nấu tinh thần dân tộc, không có chủ trương canh tân phật giáo, tôn thờ các giáo chủ Phật Thánh Tiên, là biểu tượng tôn chỉ của Tam Kỳ Phổ Độ, Qui Nguyên Tam Giáo, đại đoàn kết tín ngưỡng, do sự giáo dục của ơn trên về đạo lý, tất yếu đó, mà tín đồ Cao Đài Tiên Thiên trải qua gần trăm năm lập giáo, đã sát cánh cùng với dân tộc suốt các chặn đường lịch sử.

Do từ bối cảnh xã hội Nam Kỳ thuộc pháp vào cuối thế kỷ thứ 19 vào đầu thế kỷ 20 vô cùng tồi tệ và bi đát, bế tắt tất cả cuộc sống của người dân không nơi nương tựa, cả đời sống lẫn tâm linh, từ cái ngột ngạt nghẹt thở đó, mới nẩy sinh hai luồng tư tưởng:
1)- Giới trí thức nho học tìm phương giải thoát cho dân tộc khỏi ách thống trị.
2)- Giai cấp nông dân tìm đến gởi gấm tâm sự với Thần linh qua cơ bút, đến với cơ bút được Thần linh an ủi dạy bảo hứa hẹn ngày mai vô cùng tươi sáng, chỉ dẫn đường lối giải thoát bằng con đường đạo đức, thương yêu đoàn kết, dẫn dắt nhau để xây dựng cảnh niết bàn tại thế, là tái tạo lại đời “ Thánh đức đại đồng” Năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà.

Do vậy, cơ bút Cao Đài truyền đi rất nhanh, tham dự cơ bút để học đạo giải thoát linh hồn, giải thoát cảnh khổ ở thế gian, trong xã hội thời bấy giờ, các sĩ phu nho học cũng tìm đến để nhờ cơ bút thần linh tuyên đoán vận mệnh dân tộc, xin chỉ đường cứu nước, bởi các nguyên do đó, mới xuất hiện các phong trào cứu thế khắp Nam Kỳ, đồng bằng sông Cửu long, cứu thế có nghĩa cứu xã hội khỏi cảnh lầm than cơ cực. Trong những phong trào cứu thế, đã hòa nhập với cùng lúc hình thành Tôn giáo hiện hữu.

Cao Đài Tiên Thiên sứ mạng của quý anh lớn Tiền khai Thất Thánh, Thất Hiền, phải vâng hành mạng lịnh của Thầy với vai trò phổ độ các con cái của Thầy trong vùng sâu, vùng xa vùng nông thôn hẻo lánh, nơi đó có những nông dân nghèo đói cơ hàn, thiếu chữ, thiếu trường, giá trị nhân phẩm gần như bị ngoại bang tước đoạt hết, văn hóa bị xuống cập và bị ngoại lai, nơi đó bùn lầy nước đọng có nhiều muổi, nhiều đỉa, mà có dư những cường quyền bạo lực, toàn là ăn hiếp người nghèo đói. Như những thành phần không tiền đóng thuế thân, không chịu đi lính Tây, làm ruộng bị mất mùa không lúa đóng thuế, bị chủ điền thu hồi đất lại. Nên phải chạy vào vùng sâu khai hoang tiếp tục để làm ruộng, trồng khoai, kiếm sống, họ bám đất như cây bám rễ. Được Chí Tôn mở đạo nơi đó, nhằm tận độ, dẫn dắt những người con bần hàn đau khổ, nên không có Thánh Tịnh ở thành thị.Những tiết mục như vừa nêu, cũng đủ cho ta thấy Cao Đài Tiên Thiên là Đạo Cao Đài tự phát do các nhóm tu Tiên tập họp lại và do cơ bút lập thành, không phải tách ra bởi các phái Đạo Cao Đài nào khác.

Phần IV
CƠ BÚT TIÊN THIÊN DẠY RẤT NHIỀU HỆ:
Về siêu nhiên thì dạy: Tánh mạng song tu, luyện đạo huờn đơn, đạt pháp thân trở về Tiên thiên nhứt khí.
Về Tôn giáo thì dạy: Lễ nghi nhân cách đạo đức con người.
Về xã hội thì dạy: Tương thân, tương ái, đoàn kết thương yêu.
Về Tổ quốc thì dạy: Công bằng, Trung hậu, tôn thờ Tổ quốc, kính thờ Tổ tiên, tôn trọng tiền nhân, luôn nhắc nhở dòng giống tiên long trên bốn ngàn năm lịch sử.

Điều vô cùng mầu nhiệm của cơ bút là Thần tiên hoán cải tâm linh tín hữu, từ tư tưởng bất mãn xã hội tột cùng, không lối thoát, đưa họ vào một hy vọng huy hoàng ở tương lai và trở thành một sức sống mảnh liệt, đức tin sắt đá không gì lay chuyển nỗi, họ chỉ sợ Trời mà không sợ người, sợ sống khổ hơn sợ chết, vì họ quan niệm chết là giải thoát, sống là trả quả nghiệp nặng nề. Từ đó thần linh dẫn dắt lần lần từ yếm thế, trở thành yêu đời yêu nước.

Sâu hơn nữa, về tính dân tộc khơi gợi tình yêu Tổ quốc, vào năm 1924 tại một đàn cầu Tiên ở Đồng tháp mười, Thần linh nói rất rõ và cụ thể hơn.
                                                THI BÀI.

                             “ Giở địa đồ xem trang lịch sử,
                             Bốn ngàn năm lữ thứ xông pha;
                                      Nhìn xem một dảy sơn hà,
                   Long giang cửu khúc nước pha máu hồng.
                             Chí quân tử tang bồng nặng nợ,
                             Nợ quốc dân ngàn thuở tổ tiên;
                                      Ai người chí sĩ trần miền;
                   Ai nhìn dân tộc ngửa nghiêng buổi nầy.
                             Cơ tạo hóa vần xoay khá tỏ,
                             Máy kiền khôn mở ngỏ long hoa;
                                      Tam kỳ khai đạo nguơn ba,
                   Việt Nam chủ nghĩa bình hòa năm châu.
                             Lão đại thần vì đâu nhắn nhủ,
                             Vì phương tây lần lũ bủa giăng
                                      Ỷ mình sức mạnh xâm lăng,
                   Đem nền tôn giáo mà giăng câu ngầm.
                             Cuộc văn minh tối tân khoa học,
                             Dùng ngu dân đầu độc đồng bào;
                                      Làm cho văn hóa thoái trào,
                   Gây nên cái cảnh binh đao ngất trời.
                             Đồng tháp mười là nơi hiển địa,
                             Vùng thiên nhiên bốn phía phì nhiêu;
                                      Ngày sau vũ thuận phong điều,
                   Anh hùng chí sĩ cờ điều khai cơ.
                             Lão đại thần đồ thơ thử độc,
                             Lập Cao Đài lừa lọc linh căn;
                                      Tân dân chủ nghĩa mới rằng,
                   Nhớ câu ái quốc nắm phăng đạo mầu.
                             Ai còn tiếc công hầu phẩm vị,
                             Hảy nhớ câu vong kỷ vị tha;
                                      Quyết đem chí cả xông pha,
                   Vì dân, vì nước mới là trượng phu.
                             Dầu ai kẻ dốt ngu bao nã,
                             Dầu cùn đinh sang cả cũng là;
                                      Nam nhi hay phận quần thoa,
                   Dầu Nam, Trung, Bắc cũng là Việt Nam.
                             Đồng bào ôi! Chớ ham chung đỉnh,
                             Miếng đỉnh chung phờ phỉnh đón mời;
                                      Tổ tiên sử tạc sáng ngời,
                   Lạc long nòi giống những thời liệt oanh.
                             Từ như nguyệt phân ranh Tổ quốc,
                             Từ Nam quang cao ngất núi non;
                                      Trung Nam đi thẳng Sài Gòn,
                   Cà Mau sông nước nhìn hòn Dương đông.
                             Đất địa linh chín dòng nước bạc,
                             Cửu long giang thơm ngát mùi hoa;
                                      Nỡ đem bán rẽ sơn hà,
                   Đồng bào cốt nhục nồi da còn gì?
                             Nay lão thần cố tri nhơn hữu,
                             Khuyên đồng bào chăm chú đường ngay;
                                      Tùng nương dưới bóng Cao Đài,
                   Sửa nền phong hóa chuyển khai quốc hồn.
                                                THI
                             Hồn nước là nền đạo đức chung,
                             Chung lo bồi đắp mới anh hùng
                             Hùn công hùn sức, hùn xương máu
                             Máu đỏ da vàng vẹn hiếu trung
                             Trung hậu đảm đang phần nữ liệt
                             Liệt oanh nam tử thế tôn sùng
                             Sùng tu bền chí thờ Minh chủ
                             Chủ nghĩa nước non quyết vẩy vùng./.

Những lời thơ trên mang nhiều ý tứ tôn giáo đạo lý, tôn giáo dân tộc, văn hóa xã hội, vạch đường lối sáng lạng, tuyên đoán tương lai, giai cấp nông dân tin tưởng tuyệt đối vào thần linh, chờ đợi tôn giáo mới, chờ đợi Minh chúa xuất hiện, sẽ tiếp đón luồng sinh khí mới. Sự chờ đợi đó được đáp ứng đầy đủ. Tôn giáo mới xuất hiện năm 1924—1926 Minh chúa hay vị cứu tinh dân tộc xuất hiện năm 1930. chuyển khai quốc hồn quốc túy, chuyển đất nước Thái bình lạc nghiệp âu ca, cơm no áo ấm đất Thuấn Trời Nghiêu hiện tại.
Nhơn loại bước qua thế kỷ 21 nầy đã tiến bộ hơn xưa rất nhiều về phương diện tri thức và có những xu hướng thực tế để cải thiện đời sống trong sự liên quan đại đồng giữa các nước trên thế giới.
Thế nên muốn có đủ điều kiện phổ độ nhơn loại ở đời nầy, thì phải có một tôn giáo qui hợp chơn truyền của các cổ đạo và dung hòa lý tưởng duy tâm với lý tưởng duy vật của nhơn loại.

Vì thế, Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài, để sửa đời loạn ly, trở thành đời bình trị và phải ban truyền một đại đồng để kết hợp tinh hoa của các đạo giáo Đông Tây hầu phô bày chơn lý toàn diện sự sống trong trời đất và lập thành một học thuyết đạo đức hợp thời, hợp lý nhất.

Phần  V
KẾT BÀI.
Cái giáo lý mới mẻ của Thượng Đế được phân ra chín phẩm ba ngôi, để phổ độ. Tùy thuộc vào căn cơ và trình độ của từng người. Bất cứ bậc nào trong xã hội cũng đều có bài học. Nếu học và thực hành đúng thì sẽ được đắc quả kỳ công.

Về tổ chức hành chánh đạo thi có hiến chương quy định.
Về chức sắc thì có Pháp chánh truyền ấn định quyền hành và phẩm phục.
Về các cơ sở họ đạo Thánh Tịnh Thầy cũng phân định từng nơi tổ chức lễ hội truyền thống có mang tính lịch sử và nguồn cội văn hóa dân tộc.
Thí dụ như:
 Họ đạo Thánh Tịnh Ngũ long Môn ở Bình Đại, Bến Tre hằng năm phải giữ tục lệ tết đoan ngọ vào ngày mùng 5 tháng 5. kỷ niệm ngày Thần Nông vị tổ dạy làm nông nghiệp và y học.
Họ Đạo Thánh Tịnh An Thiên chợ Lách Vĩnh Long. Và Họ Đạo Thánh Tịnh Ngọc Long Thành châu Thành, Long An hai Thánh Tịnh nầy được lịnh Chí Tôn Khai Đại Lễ Trùng cửu mùng 9 tháng 9 mùa Báo hiếu Cửu huyền Thất Tổ và những tiền bối dựng nước, từ họ Hồng Bàng cũng như các anh hùng liết sĩ giữ nước.
Họ Đạo Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang ở Măng Thít Vĩnh long ơn trên dạy dựng Đài Ngưỡng Thiên Tế Đàn Nam giao Cầu nguyện Hòa bình vào ngày 14 và rằm tháng 11 năm 1970.
Họ Đạo Thánh Tịnh Hòa An Phổ Hóa. Cai lậy Tiền Giang ngày 17-18/ 2 /1972.
 Họ Đạo Thánh Tịnh Kim Thành Long Chợ Gạo Tiền Giang. Ngày18-19 / 2 / 1973.
 Họ Đạo Tòa Thánh Thiên Thai Vô Vi  Cai lậy, Tiền Giang ngày 19 -20 /2 /1974. Bốn Thánh Tịnh, Ơn trên dạy Thiết Đại Hội Cầu Nguyên Hòa Bình ở Việt Nam Và Đông Dương.từ năm 1970—1974. Hằng năm các Thánh Tịnh nầy phải tổ chức kỷ niệm.
Đạo Cao Đài Tiên Thiên là một tôn giáo phát sinh trong lòng dân tộc, phục hồi đạo đức văn hóa dân tộc của người Việt Nam và giữ vững truyền thống không để mất gốc xa nguồn của dân tộc, vì tiền nhân đã từng vào tù ra khám chết chóc đau thương để dành lại Tổ quốc thân yêu cho tới hôm nay. Là bậc kế thừa, chúng ta phải gìn giữ những truyền thống tốt đẹp đó, làm cho nước nhà ngày càng thêm giàu đẹp, phát triển để kịp sánh vai với các cường quốc  có đạo đức trên thế giới./.